CHU VĂN AN (1292-1370)
- Thứ tư - 09/09/2026 22:34
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Chu An nay quen gọi là Chu Văn An, tự là Linh Triệt, sinh ngày 25 tháng 8 năm Nhâm Thìn, niên hiệu Trùng Hưng thứ 18 (1292), tại thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Dòng họ Chu ở đây đến nay đã có tới 20 đời kể từ cụ Chu Thiện, thân phụ Chu Văn An. Hiện nay tại thôn Văn còn nhà thờ họ Chu. Nhà thờ còn nhiều cổ vật có giá trị, gian giữa có bức đại tự: Chu gia phái đường, nghĩa là Nhà thờ của một chi phái họ Chu. Dòng họ này có truyền thống hiếu học và trọng nhân nghĩa. Cháu 4 đời của Chu Văn An là Chu Đình Bảo, đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, năm Hồng Đức 15 (1484)...
Chu An nay quen gọi là Chu Văn An, tự là Linh Triệt, sinh ngày 25 tháng 8 năm Nhâm Thìn, niên hiệu Trùng Hưng thứ 18 (1292), tại thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Dòng họ Chu ở đây đến nay đã có tới 20 đời kể từ cụ Chu Thiện, thân phụ Chu Văn An. Hiện nay tại thôn Văn còn nhà thờ họ Chu. Nhà thờ còn nhiều cổ vật có giá trị, gian giữa có bức đại tự: Chu gia phái đường, nghĩa là Nhà thờ của một chi phái họ Chu. Dòng họ này có truyền thống hiếu học và trọng nhân nghĩa. Cháu 4 đời của Chu Văn An là Chu Đình Bảo, đỗ Tiến sĩ khoa Giáp Thìn, năm Hồng Đức 15 (1484)...
Thuở nhỏ, Chu Văn An sớm có nghị lực, chuyên cần học tập; nghiêm khắc sửa mình, khi trưởng thành ông đạt đến mức thông kinh bác sử, danh lợi không màng, tài năng đức độ hơn hẳn các nho sĩ đương thời. Tuy thế, ông ít quan tâm đến chốn quan trường, mà ở nhà chuyên tâm đọc sách, dậy học. Ông dựng nhà ở Huỳnh Cung, mảnh đất gần thôn Văn. Làm trường học, học trò xa gần nghe tiếng thầy An kéo đến học rất đông, trong số đó nhiều người hiển đạt vẫn giữ được đức thanh liêm như: Lê Quát, Phạm Sư Mạnh... Do có tài năng xuất chúng, đức độ hơn người, nên mới ngoài 20 tuổi ông đã được vua Trần Minh Tông (1314 - 1329), mời làm quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám, dạy Thái Tử và các con quan lại học tập. Học trò ông nhiều người làm quan lớn trong triều, làm đến chức Hành khiển khi đến thăm thầy vẫn giữ được lễ học trò, được thầy hỏi chuyện rồi đi vẫn lấy làm mừng lắm. Trần Dụ Tông học trò của ông, lên làm vua năm Tân Tỵ (1341), là người ham thích vui chơi, chễ nải chính sự, bề tôi nhiều người vi phạm phép nước, nhiều lần ông khuyên sửa trị nhưng vua không nghe. Ông bèn dâng sớ chém 7 tên nịnh thần, đều là những kẻ có thế lực trong triều được vua yêu quý, đương thời gọi là thất trảm sớ. Tuy thế, vua vẫn bỏ qua không xem xét. Ông trao trả mũ áo, từ quan, về núi Phượng Hoàng, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh dựng nhà mở trường dạy học, tìm cây thuốc chữa bệnh, làm thơ, viết sách lưu cho hậu thế. Ông đặt cho mình một tên mới: Tiều ẩn - Một tiều phu, ẩn dật trong rừng.
Phượng Hoàng là một thắng cảnh, có rừng thông bát ngát, đá núi lô xô, chùa tháp cổ kính, với 72 ngọn núi ngoạn mục. Một dẫy núi nằm giữa vùng thắng cảnh và di tích lịch sử, nơi di dưỡng tinh thần của nhiều danh nhân thời Lý - Trần, như: Côn Sơn, Kiếp Bạc, Sùng Nghiêm, Thanh Mai, An Lạc, Trần Xá Loan... Đây là những di tích gắn liền với cuộc đời các danh nhân: Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang...
Trần Nguyên Đán là người nhiều lần đến thăm các di tích Phượng Hoàng và có làm thơ ca ngợi các di tích này như: Huyền Thiên Tử cực cung, Chí Linh sơn, Phượng Hoàng phong... Trong một bài thơ, ông viết:
Lưu Quang điện hạ tùng thiên thụ,
Tận thị kình thiên nhất thủ tài.
(Dưới điện Lưu Quang thông ngàn gốc,
Cao vút trời xanh một người trồng).
Chu Văn An tuy ở chốn lâm tuyền nhưng vẫn đau đáu vận mệnh quốc gia, và triều đình cũng không quên một nhân tài mẫu mực. Khi triều đình có đại sự, bao giờ cũng mời ông về tham dự. Mỗi lần như thế ông đều tâu bày thẳng thắn, hi vọng giữ vững kỉ cương, làm cho quốc thái dân an. Vua cho người mang lễ vật đến nhà riêng để ban tặng, ông thường từ chối và nếu có nhận sau lại mang chia cho mọi người. Tuy đã được thầy Chu cảnh tỉnh nhưng triều đình nhà Trần vẫn không khắc phục được những sai lầm, sa đọa trong buổi mạt kỳ, bị Dương Nhật Lễ cướp ngôi (1369). Năm sau, Trần Nghệ Tông giành lại ngôi báu, ông cả mừng, mặc dù tuổi đã cao, vẫn chống gậy về kinh bái yết. Tại kinh đô, vua ban chức gì ông cũng không nhận. Hiến Từ Thái Hoàng Thái Hậu đã từng nói: “Ông ta là người không thể bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ta”.
Sau lễ bái yết, Ông lại về nhà riêng tại Phượng Hoàng rồi mất tại đó vào ngày 26 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1370) thọ 79 tuổi. Vua sai quan triều đình đến dụ tế, tặng Văn Trinh Công, thụy là Khang Tiết và cho thờ ở Văn Miếu, đây là trường hợp đặc biệt và duy nhất trong giới nho sĩ nước nhà. Do có tên Thụy là Trinh Công nên đời sau gọi ghép tên Húy với tên Thụy mà thành Chu Văn An.
Mộ ông đặt tại thung lũng thoáng rộng, trên độ cao khoảng 200m, phía Nam núi Phượng Hoàng, cách nơi ẩn cư chừng 600m về phía Tây Bắc. Học trò làm nhà bên mộ ở đến cả năm, để trông nom và tế lễ, tỏ lòng thương tiếc thầy. Lịch sử dân tộc tôn vinh ông là một nhà nho có đức nghiệp lớn nhất. Sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn về Chu An trong quốc sử:
“Người hiền được dùng ở đời, thường lo người làm vua không thi hành những điều sở học của mình. Người làm vua sử dụng người hiền thường lo người hiền không theo ý muốn của mình. Cho nên vua (sáng) tôi (hiền) gặp nhau từ xưa vẫn là rất khó.
Nhưng nhà Nho nước Việt ta được dùng ở đời không phải không nhiều, nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến công danh, kẻ thì chuyên lo về phú quỷ, kẻ lại a dua với đời, kẻ thì cốt ăn lộc giữ thân, chưa có ai chịu để tâm đến đạo đức, suy nghĩ với việc giúp vua nêu được đức tốt, cho dân được nhờ ơn, như Tô Hiến Thành đời Lý, Chu Văn Trinh đời Trần có lẽ gần được như thế. Hãy lấy Chu Văn Trinh mà nói: thờ vua tất thẳng thắn can ngăn, xuất xử đều làm theo nghĩa lý, đào tạo nhân tài thì công khanh đều ở cửa ông mà ra, tiết tháo cao thượng thì thiên tử cũng không bắt làm tôi được. Huống chi tư thế đường hoàng mà đạo làm thấy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ. Ngàn năm về sau, nghe phong độ của ông há không làm cho bọn điêu ngoa phải liêm chính, người yếu hèn biết tự lập hay sao ? Nếu không tìm hiểu nguyên cớ thì ai biết thụy hiệu của ông xứng với con người của ông. Ông đáng được coi là ông tổ của các nhà Nho nước Việt ta mà thờ vào Văn miếu”.
Sự nghiệp của Chu Văn An là sự nghiệp của một nhà giáo, khi còn ở quê đã mở trường dậy học và nơi ông sống những năm tháng thoái triều, đều được dựng đền thờ giản dị.
Căn cứ tư liệu lịch sử, văn bia tại di tích và những di tích khai thác tại địa phương, thì tại Phượng Hoàng có các di tích: đền Phượng Hoàng thờ Chu Văn An và phần mộ của ông, chùa Huyền Thiên, Cung tử Cực, Điện Lưu Quang, Am Lệ Kỳ, Miết Trì, Giếng Son, Giếng Ngọc... Trải qua 7 thế kỷ, qua biết mấy cuộc chiến tranh binh lửa, bão tố của xã hội, cảnh quan biến đổi khôn lường, Đền Phượng Hoàng bị tàn phá, chỉ còn mảng tường đá ở hậu cung, bia ký ngổn ngang, Am Lệ Kỳ, Điện Lưu Quang rừng cây bao phủ, Miết Trì bùn lấy cỏ mọc um tùm, Giếng Son, Giếng Ngọc bị vùi lấp. Riêng khu lăng mộ hoang tàn giữa chốn rừng sâu, tuy thế vẫn được nhân dân địa phương tưởng nhớ, đó đây vẫn thấy những chân hương hồng thắm. Việc khôi phục ngôi đền đầu tiên sau chiến tranh cũng do nhân dân địa phương tự giác thực hiện, tuy đơn sơ nhưng như đốm lửa hồng khơi gợi những ý tưởng lớn sau này.
Được phép của Bộ Văn hóa - Thông tin, năm 1997, Bảo tàng Hải Dương đã tiến hành thám sát, khai quật hầu hết di tích cổ đã được phát hiện. Tại khu di tích còn 5 tấm bia: Trùng tu Lệ Kỳ Tự (TK XVII), Chu Văn Trinh tiên sinh ẩn cư xứ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1784), 3 tấm bia nói về thân thế sự nghiệp thầy Chu và các lần trùng tu vào các năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), Thiệu Trị nguyên niên (1841), Tự Đức năm thứ 10 (1857). Đây là những minh văn ghi nhận lịch sử khu di tích gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của nhà giáo Chu An.
Sinh thời, Chu An biên soạn nhiều sách để dạy học, sáng tác nhiều thơ văn để thể hiện ý chí và tình cảm của mình và những tri thức về y học như: Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi tập, Tiều ẩn quốc ngữ thi tập, Y học yếu giải. Nay phần lớn đã thất truyền, chỉ còn 12 bài thơ chép trong Toàn Việt thi tập, và Y học yếu giải. Những bài thơ còn lại đến nay phần lớn được sáng tác trong những năm cuối đời ở Phượng Hoàng như các bài: Linh sơn tập ứng, Thanh lương giang, Miết Trì, Xuân đán, Sơ Hạ...
Từ đầu năm 1997, khu di tích Phượng Hoàng, nơi sống khoảng mười năm cuối đời của tiên sinh được chính quyền và nhân dân địa phương trùng tu với quy mô lớn. Ngày 12 tháng 8, lễ khánh thành trùng tu giai đoạn I của Khu di tích được tổ chức trọng thể, giáo giới, học sinh và nhân dân địa phương hưởng ứng nhiệt liệt, trước sự chứng kiến của các ngành hữu quan. Đây cũng là ngày đón bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia, thể hiện sự quan tâm của nhà nước và ý chí của nhân dân địa phương trong việc bảo tồn khu di tích, nơi nhà giáo mẫu mực của dân tộc sống những năm tháng cuối đời. Kể từ khi được trùng tu, tôn tạo, khu di tích trở thành nơi về nguồn của giáo giới và học sinh cả nước; coi đó là biểu hiện sự quyết tâm dạy và học theo tấm gương của tiên sinh. Do đạo đức, tài năng và công lao to lớn của tiên sinh đối với dân tộc mà ông được thờ tại Văn miếu Mao Điền Văn miếu tỉnh (trấn) Hải Dương, nơi tôn vinh những người dạy và học tiêu biểu của đất nước.
--------------
Chú thích:
1)- Đại Việt sử ký toàn thư ghi “Ngày 26 tháng 11, năm Canh Tuất, Thiệu Khánh, nguyên niên (1370)... Tư nghiệp Quốc tử Giám Chu An mất, được truy tặng tước Văn Trinh Công ban cho tòng tự ở Văn miếu”. Sau khi qua đời ông được gọi là Chu Văn Trinh. Đời sau, quen gọi ghép tên húy An với tên Thụy Văn Trinh thành Chu Văn An. Tước Công là tước cao nhất trong thang bậc phong tước thời phong kiến Việt Nam (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam).
2)- Thần tích Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa cho biết, Ông nội Chu An là Chu Nguyên Lương, tham gia kháng chiến chống Nguyên và đã đến Phượng Hoàng thăm di tích lịch sử ở đây nhiều lần. Phải chăng vì thế mà Chu An cuối đời về đây ẩn cư.
3)- Thời Trần chưa có chức Tế tửu Quốc tử giám, nên Tư nghiệp giữ vai trò như hiệu trưởng của trường. Đến thời Hậu Lê mới thiết lập chức Tế tửu Quốc tử giám, khi đó Tư nghiệp chỉ tương đương chức phó hiệu trưởng.
4)- Có tài liệu ghi ông đỗ Thái học sinh. Sự kiện này nếu có cũng là hợp lý, vì triều Trần nhiều khoa thi không ghi được số người đỗ đầy đủ. Gần đây khi đọc Tiên hiền bi ký, niên đại Hoằng Định (1600-1619), tại Kính Chủ, Kinh Môn, chúng tôi đọc được trên bia những danh thần đồng thời là tiến sĩ, trong đó có các danh nhân như: Phạm Ngộ, Phạm Mại, Phạm Quá, Đỗ Khắc Chung.... Những vị này không thấy trong Đăng khoa lục. Khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long 12, Đại Việt SKTT ghi lấy đỗ 44 người, nhưng các sách đang khoa lục hiện lưu hành chỉ ghi được 4 người, như vậy còn thiếu 40 người.

Thuở nhỏ, Chu Văn An sớm có nghị lực, chuyên cần học tập; nghiêm khắc sửa mình, khi trưởng thành ông đạt đến mức thông kinh bác sử, danh lợi không màng, tài năng đức độ hơn hẳn các nho sĩ đương thời. Tuy thế, ông ít quan tâm đến chốn quan trường, mà ở nhà chuyên tâm đọc sách, dậy học. Ông dựng nhà ở Huỳnh Cung, mảnh đất gần thôn Văn. Làm trường học, học trò xa gần nghe tiếng thầy An kéo đến học rất đông, trong số đó nhiều người hiển đạt vẫn giữ được đức thanh liêm như: Lê Quát, Phạm Sư Mạnh... Do có tài năng xuất chúng, đức độ hơn người, nên mới ngoài 20 tuổi ông đã được vua Trần Minh Tông (1314 - 1329), mời làm quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám, dạy Thái Tử và các con quan lại học tập. Học trò ông nhiều người làm quan lớn trong triều, làm đến chức Hành khiển khi đến thăm thầy vẫn giữ được lễ học trò, được thầy hỏi chuyện rồi đi vẫn lấy làm mừng lắm. Trần Dụ Tông học trò của ông, lên làm vua năm Tân Tỵ (1341), là người ham thích vui chơi, chễ nải chính sự, bề tôi nhiều người vi phạm phép nước, nhiều lần ông khuyên sửa trị nhưng vua không nghe. Ông bèn dâng sớ chém 7 tên nịnh thần, đều là những kẻ có thế lực trong triều được vua yêu quý, đương thời gọi là thất trảm sớ. Tuy thế, vua vẫn bỏ qua không xem xét. Ông trao trả mũ áo, từ quan, về núi Phượng Hoàng, xã Kiệt Đặc, huyện Chí Linh dựng nhà mở trường dạy học, tìm cây thuốc chữa bệnh, làm thơ, viết sách lưu cho hậu thế. Ông đặt cho mình một tên mới: Tiều ẩn - Một tiều phu, ẩn dật trong rừng.
Phượng Hoàng là một thắng cảnh, có rừng thông bát ngát, đá núi lô xô, chùa tháp cổ kính, với 72 ngọn núi ngoạn mục. Một dẫy núi nằm giữa vùng thắng cảnh và di tích lịch sử, nơi di dưỡng tinh thần của nhiều danh nhân thời Lý - Trần, như: Côn Sơn, Kiếp Bạc, Sùng Nghiêm, Thanh Mai, An Lạc, Trần Xá Loan... Đây là những di tích gắn liền với cuộc đời các danh nhân: Trần Hưng Đạo, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Chẩn, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang...
Trần Nguyên Đán là người nhiều lần đến thăm các di tích Phượng Hoàng và có làm thơ ca ngợi các di tích này như: Huyền Thiên Tử cực cung, Chí Linh sơn, Phượng Hoàng phong... Trong một bài thơ, ông viết:
Lưu Quang điện hạ tùng thiên thụ,
Tận thị kình thiên nhất thủ tài.
(Dưới điện Lưu Quang thông ngàn gốc,
Cao vút trời xanh một người trồng).
Chu Văn An tuy ở chốn lâm tuyền nhưng vẫn đau đáu vận mệnh quốc gia, và triều đình cũng không quên một nhân tài mẫu mực. Khi triều đình có đại sự, bao giờ cũng mời ông về tham dự. Mỗi lần như thế ông đều tâu bày thẳng thắn, hi vọng giữ vững kỉ cương, làm cho quốc thái dân an. Vua cho người mang lễ vật đến nhà riêng để ban tặng, ông thường từ chối và nếu có nhận sau lại mang chia cho mọi người. Tuy đã được thầy Chu cảnh tỉnh nhưng triều đình nhà Trần vẫn không khắc phục được những sai lầm, sa đọa trong buổi mạt kỳ, bị Dương Nhật Lễ cướp ngôi (1369). Năm sau, Trần Nghệ Tông giành lại ngôi báu, ông cả mừng, mặc dù tuổi đã cao, vẫn chống gậy về kinh bái yết. Tại kinh đô, vua ban chức gì ông cũng không nhận. Hiến Từ Thái Hoàng Thái Hậu đã từng nói: “Ông ta là người không thể bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ta”.
Sau lễ bái yết, Ông lại về nhà riêng tại Phượng Hoàng rồi mất tại đó vào ngày 26 tháng 11 năm Nhâm Tuất (1370) thọ 79 tuổi. Vua sai quan triều đình đến dụ tế, tặng Văn Trinh Công, thụy là Khang Tiết và cho thờ ở Văn Miếu, đây là trường hợp đặc biệt và duy nhất trong giới nho sĩ nước nhà. Do có tên Thụy là Trinh Công nên đời sau gọi ghép tên Húy với tên Thụy mà thành Chu Văn An.
Mộ ông đặt tại thung lũng thoáng rộng, trên độ cao khoảng 200m, phía Nam núi Phượng Hoàng, cách nơi ẩn cư chừng 600m về phía Tây Bắc. Học trò làm nhà bên mộ ở đến cả năm, để trông nom và tế lễ, tỏ lòng thương tiếc thầy. Lịch sử dân tộc tôn vinh ông là một nhà nho có đức nghiệp lớn nhất. Sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn về Chu An trong quốc sử:
“Người hiền được dùng ở đời, thường lo người làm vua không thi hành những điều sở học của mình. Người làm vua sử dụng người hiền thường lo người hiền không theo ý muốn của mình. Cho nên vua (sáng) tôi (hiền) gặp nhau từ xưa vẫn là rất khó.
Nhưng nhà Nho nước Việt ta được dùng ở đời không phải không nhiều, nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến công danh, kẻ thì chuyên lo về phú quỷ, kẻ lại a dua với đời, kẻ thì cốt ăn lộc giữ thân, chưa có ai chịu để tâm đến đạo đức, suy nghĩ với việc giúp vua nêu được đức tốt, cho dân được nhờ ơn, như Tô Hiến Thành đời Lý, Chu Văn Trinh đời Trần có lẽ gần được như thế. Hãy lấy Chu Văn Trinh mà nói: thờ vua tất thẳng thắn can ngăn, xuất xử đều làm theo nghĩa lý, đào tạo nhân tài thì công khanh đều ở cửa ông mà ra, tiết tháo cao thượng thì thiên tử cũng không bắt làm tôi được. Huống chi tư thế đường hoàng mà đạo làm thấy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ. Ngàn năm về sau, nghe phong độ của ông há không làm cho bọn điêu ngoa phải liêm chính, người yếu hèn biết tự lập hay sao ? Nếu không tìm hiểu nguyên cớ thì ai biết thụy hiệu của ông xứng với con người của ông. Ông đáng được coi là ông tổ của các nhà Nho nước Việt ta mà thờ vào Văn miếu”.
Sự nghiệp của Chu Văn An là sự nghiệp của một nhà giáo, khi còn ở quê đã mở trường dậy học và nơi ông sống những năm tháng thoái triều, đều được dựng đền thờ giản dị.
Căn cứ tư liệu lịch sử, văn bia tại di tích và những di tích khai thác tại địa phương, thì tại Phượng Hoàng có các di tích: đền Phượng Hoàng thờ Chu Văn An và phần mộ của ông, chùa Huyền Thiên, Cung tử Cực, Điện Lưu Quang, Am Lệ Kỳ, Miết Trì, Giếng Son, Giếng Ngọc... Trải qua 7 thế kỷ, qua biết mấy cuộc chiến tranh binh lửa, bão tố của xã hội, cảnh quan biến đổi khôn lường, Đền Phượng Hoàng bị tàn phá, chỉ còn mảng tường đá ở hậu cung, bia ký ngổn ngang, Am Lệ Kỳ, Điện Lưu Quang rừng cây bao phủ, Miết Trì bùn lấy cỏ mọc um tùm, Giếng Son, Giếng Ngọc bị vùi lấp. Riêng khu lăng mộ hoang tàn giữa chốn rừng sâu, tuy thế vẫn được nhân dân địa phương tưởng nhớ, đó đây vẫn thấy những chân hương hồng thắm. Việc khôi phục ngôi đền đầu tiên sau chiến tranh cũng do nhân dân địa phương tự giác thực hiện, tuy đơn sơ nhưng như đốm lửa hồng khơi gợi những ý tưởng lớn sau này.
Được phép của Bộ Văn hóa - Thông tin, năm 1997, Bảo tàng Hải Dương đã tiến hành thám sát, khai quật hầu hết di tích cổ đã được phát hiện. Tại khu di tích còn 5 tấm bia: Trùng tu Lệ Kỳ Tự (TK XVII), Chu Văn Trinh tiên sinh ẩn cư xứ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1784), 3 tấm bia nói về thân thế sự nghiệp thầy Chu và các lần trùng tu vào các năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), Thiệu Trị nguyên niên (1841), Tự Đức năm thứ 10 (1857). Đây là những minh văn ghi nhận lịch sử khu di tích gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của nhà giáo Chu An.
Sinh thời, Chu An biên soạn nhiều sách để dạy học, sáng tác nhiều thơ văn để thể hiện ý chí và tình cảm của mình và những tri thức về y học như: Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi tập, Tiều ẩn quốc ngữ thi tập, Y học yếu giải. Nay phần lớn đã thất truyền, chỉ còn 12 bài thơ chép trong Toàn Việt thi tập, và Y học yếu giải. Những bài thơ còn lại đến nay phần lớn được sáng tác trong những năm cuối đời ở Phượng Hoàng như các bài: Linh sơn tập ứng, Thanh lương giang, Miết Trì, Xuân đán, Sơ Hạ...
Từ đầu năm 1997, khu di tích Phượng Hoàng, nơi sống khoảng mười năm cuối đời của tiên sinh được chính quyền và nhân dân địa phương trùng tu với quy mô lớn. Ngày 12 tháng 8, lễ khánh thành trùng tu giai đoạn I của Khu di tích được tổ chức trọng thể, giáo giới, học sinh và nhân dân địa phương hưởng ứng nhiệt liệt, trước sự chứng kiến của các ngành hữu quan. Đây cũng là ngày đón bằng xếp hạng di tích cấp quốc gia, thể hiện sự quan tâm của nhà nước và ý chí của nhân dân địa phương trong việc bảo tồn khu di tích, nơi nhà giáo mẫu mực của dân tộc sống những năm tháng cuối đời. Kể từ khi được trùng tu, tôn tạo, khu di tích trở thành nơi về nguồn của giáo giới và học sinh cả nước; coi đó là biểu hiện sự quyết tâm dạy và học theo tấm gương của tiên sinh. Do đạo đức, tài năng và công lao to lớn của tiên sinh đối với dân tộc mà ông được thờ tại Văn miếu Mao Điền Văn miếu tỉnh (trấn) Hải Dương, nơi tôn vinh những người dạy và học tiêu biểu của đất nước.
--------------
Chú thích:
1)- Đại Việt sử ký toàn thư ghi “Ngày 26 tháng 11, năm Canh Tuất, Thiệu Khánh, nguyên niên (1370)... Tư nghiệp Quốc tử Giám Chu An mất, được truy tặng tước Văn Trinh Công ban cho tòng tự ở Văn miếu”. Sau khi qua đời ông được gọi là Chu Văn Trinh. Đời sau, quen gọi ghép tên húy An với tên Thụy Văn Trinh thành Chu Văn An. Tước Công là tước cao nhất trong thang bậc phong tước thời phong kiến Việt Nam (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam).
2)- Thần tích Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa cho biết, Ông nội Chu An là Chu Nguyên Lương, tham gia kháng chiến chống Nguyên và đã đến Phượng Hoàng thăm di tích lịch sử ở đây nhiều lần. Phải chăng vì thế mà Chu An cuối đời về đây ẩn cư.
3)- Thời Trần chưa có chức Tế tửu Quốc tử giám, nên Tư nghiệp giữ vai trò như hiệu trưởng của trường. Đến thời Hậu Lê mới thiết lập chức Tế tửu Quốc tử giám, khi đó Tư nghiệp chỉ tương đương chức phó hiệu trưởng.
4)- Có tài liệu ghi ông đỗ Thái học sinh. Sự kiện này nếu có cũng là hợp lý, vì triều Trần nhiều khoa thi không ghi được số người đỗ đầy đủ. Gần đây khi đọc Tiên hiền bi ký, niên đại Hoằng Định (1600-1619), tại Kính Chủ, Kinh Môn, chúng tôi đọc được trên bia những danh thần đồng thời là tiến sĩ, trong đó có các danh nhân như: Phạm Ngộ, Phạm Mại, Phạm Quá, Đỗ Khắc Chung.... Những vị này không thấy trong Đăng khoa lục. Khoa thi Thái học sinh năm Giáp Thìn, niên hiệu Hưng Long 12, Đại Việt SKTT ghi lấy đỗ 44 người, nhưng các sách đang khoa lục hiện lưu hành chỉ ghi được 4 người, như vậy còn thiếu 40 người.
Nguồn bài viết in trong sách:
“VĂN MIẾU MAO ĐIỀN
DI TÍCH – DANH NHÂN VÀ LỄ HỘI”
“VĂN MIẾU MAO ĐIỀN
DI TÍCH – DANH NHÂN VÀ LỄ HỘI”