Hải Phòng học

http://haiphonghoc.vn


NGUỒN GỐC HỘI MÙA XUÂN CÔN SƠN

Sau ngày hoà bình lập lại (1954), Côn Sơn vẫn giữ được cảnh u tịch của chốn thiền môn, suối vẫn ngân nga, thông trúc vẫn đứng thẳng hàng lặng lẽ canh giữ những di tích thiêng liêng. Riêng công trình kiến trúc không kham nổi những thế kỷ gió mưa, binh lửa... Thanh Hư động lộng lẫy khi xưa đã hoang tàn, thượng điện chùa Côn Sơn Thiên tư phúc ngói xô, mái dột, bia tháp rêu phong, tiền đường xụp đổ để Hộ Pháp đứng ngoài trời giận giữ nhìn khách vãng lai.
Sau ngày hoà bình lập lại (1954), Côn Sơn vẫn giữ được cảnh u tịch của chốn thiền môn, suối vẫn ngân nga, thông trúc vẫn đứng thẳng hàng lặng lẽ canh giữ những di tích thiêng liêng. Riêng công trình kiến trúc không kham nổi những thế kỷ gió mưa, binh lửa... Thanh Hư động lộng lẫy khi xưa đã hoang tàn, thượng điện chùa Côn Sơn Thiên tư phúc ngói xô, mái dột, bia tháp rêu phong, tiền đường xụp đổ để Hộ Pháp đứng ngoài trời giận giữ nhìn khách vãng lai.
 

Vào dịp kỷ niệm 520 ngày qua đời (1962), Nguyễn Trãi được tôn vinh, xứng với vị thế của ông trong lịch sử dân tộc. Những di tích có quan hệ đến ông cũng được quan tâm trùng tu, tôn tạo, trong đó có chùa Côn Sơn. Cũng từ đó, Hội mùa xuân Côn Sơn được phục hồi. Năm 1980, kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, Hội mùa xuân Côn Sơn đông chưa từng có trong mấy thập kỷ qua. Trong số khách đến hội, không ít người lầm tưởng đây là ngày kỷ niệm người Anh hùng dân tộc. Thực tế Hội mùa xuân Côn Sơn bắt nguồn từ một sự tích khác, có từ trước khi Nguyễn Trãi ra đời.

Thời Trần (1225-1400), Phật giáo còn rất thịnh hành, tuy đã bị một số nho sĩ phê phán trên một số phương diện. Trần Nhân Tông, ông vua từng lãnh đạo hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, lập chiến công lừng lẫy, đã giành những năm tháng cuối đời nghiên cứu đạo Phật. Với tinh thần độc lập, tự chủ, muốn có một tôn giáo mang mầu sắc dân tộc, ông đã cùng các đệ tử tiếp thu những ý tưởng của ông cha, sáng lập một thiền phái mang tên Trúc Lâm, tiếp đó được Pháp Loa, Huyền Quang thừa kế. Ba vị cao tăng được suy tôn là Trúc Lâm tam tổ. Ngày mất của các vị trở thành ngày giỗ tổ của những tín đồ theo tôn giáo này. Ngày giỗ ấy dần dần trở thành ngày hội ở những nơi mà sinh thời các vị để lại những ấn tượng sâu sắc và nơi ấy được gọi là chốn Phật tổ.

Huyền Quang tên thật là Lý Đạo Tái, thuộc dòng dõi quan lại nhà Lý, sinh năm Nguyên Phong thứ tư (1254), quê tại hương Vạn Tải, huyện Gia Định, nay thuộc thôn Vạn Tư xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Ông là người thông minh, hiếu học, năm 20 tuổi đỗ Hương cử, năm 21 tuổi đỗ đầu khoa Đại tỷ thủ sĩ, niên hiệu Bảo Phù thứ hai (1274), người đời sau gọi ông là Trạng nguyên. Vua Trần thấy ông là người tài năng đức độ, đỗ đạt cao, mang công chúa Liễu gả cho nhưng ông không nhận. Ông làm việc ở Viện Hàn lâm, thường xuyên giao thiệp với sứ thần, văn thư đi lại, viện dẫn kinh điển, ứng đối lưu loát, văn chương ngôn ngữ hay hơn cả Thượng quốc và những nước láng giềng. Khác với những nho sĩ đương thời, cuối đời, Lý Đạo Tái tìm đến tôn giáo. Ngày nay có thể biết một phần cuộc đời và sự nghiệp của ông qua văn bia Tháp Viên thông, Lý Trạng nguyên hành trạng và một số thư tịch khác.

Một hôm, Lý Đạo Tái theo vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm, huyện Phượng Nhỡn, nghe Pháp Loa giảng kinh, ông thấy có nhiều điểm tâm đắc, liền xin triều đình cho xuất gia tu hành. Vua Anh Tông chần chừ mãi mới y cho. Ông xuất gia, kiên trì học đạo ở chùa Lễ Vĩnh từ năm Hưng Long 13 (1305), dưới sự chỉ dẫn của Bão Phác, một đệ tử xuất sắc của Pháp Loa, khi đó đã 52 tuổi. Năm Hưng Long 14 (1306), Nhân Tông lập đạo tràng ở chùa Vĩnh Nghiêm, cho Pháp Loa làm giảng chủ, Lý Đạo Tái theo Bão Phác đến thụ giáo, được Nhân Tông cho làm thị giả. Ông cùng Điều ngự đầu đà Trần Nhân Tông và Pháp Loa du ngoạn khắp danh lam cổ tích của đất nước. Sau khi Nhân Tông qua đời, ông theo Pháp Loa học đạo không rời, được Pháp Loa đặp pháp hiệu là Huyền Quang. Là học trò, nhưng ông hơn Pháp Loa đến 30 tuổi. Ông có biệt tài biên soạn kinh sách, “Các sách nói về đạo Phật do chính tay Huyền Quang viết ra thì không nên nên thêm bớt một chứ nào”. Sau 8 năm xuất gia, Huyên Quang được chú trì chùa Vân Yên, một trong những trung tâm tôn giáo lớn nhất đất nước đương thời, trên núi Yên Tử.

Một hôm, vua Anh Tông nói với thị thần và tăng ni rằng: “Người ta sinh ra ở đời, ăn của ngon, yêu sắc đẹp, người nào cũng có tình dục ấy. Chúng ta vì dốc lòng học đao mà phải ức chế, nhưng chỉ ức chế một phần tinh duc ấy mà thôi. Nay, xét lão tăng Huyền Quang, sinh ra sắc sắc không không, yên lặng như nước không sóng, trong sáng như gương không bụi, như thế là sư ấy ức chế được tình dục hay không có tình dục?” Học sĩ lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi tâu: “Họa hồ họa bì nan họa cốt, tri nhân tri diện bất tri tâm (Vẽ hổ, vẽ da khó vẽ được xương. Biết người, biết mặt không biết được ý nghĩ). Hãy thử xem mới biết hay, dở.”

Bấy giờ trong triều có một cung nữ đang độ thanh xuân, tài sắc tuyệt vời. Quê nàng ở làng Hoạch Trạch, huyện Đường An, mẹ nàng goá chồng từ khi còn trẻ. Một lần bà đi chùa Quỳnh Lâm (Đông Triều) thờ Phật, đêm ngủ lại chốn thiền môn, có người đàn ông không quen biết, đến gian díu. Sau đây bà có thai, sinh con gái, dân gian gọi là em bé chùa Quỳnh. Em lớn lên, ngày càng xinh đẹp, thông minh, ham học khác thường. Chín tuổi được tuyển làm cung nữ, vua khen là nữ thần đồng, Cửu lưu, Tam giáo, không sách nào là không thông, đặc biệt là có tài thơ nôm. Người đó có tên là Điểm Bích.

Vua chọn Điểm Bích làm người kiểm nghiệm sư chân tu của Huyền Quang và dặn: “Phải lấy được vàng của Huyền Quang, nếu lão tăng còn tình dục”. Từ kinh thành Thăng Long, Điểm Bích ra đi cùng một tiểu tì, trèo đèo, lội suối, mấy lần vượt qua dòng Giải Oan, nàng đến chùa Vân Yên, xin ở nhờ một bà vãi già. Lấy có xuất gia học đạo, ngày ngày nàng mang nước đến chỗ Huyền Quang, hy vọng sắc đẹp rực rỡ, dáng điệu uyển chuyển của nàng sẽ làm thức dậy cuộc sống trần tục của lão tăng. Qua nhiều lần tiếp xúc, Huyền Quang như không để ý đến người con gái xinh đẹp, dịu dàng hiếm thấy, nhưng kỳ thực hiểu thấu nội tâm nàng. Ông khuyên Điểm Bích hãy trở về, khi nào cao tuổi mới tu được.

Người con gái thông minh như Điểm Bích không chịu thất bại. Một hôm, nàng tự xưng là con quan huyện thừa huyện Cẩm Hóa. Cha nàng mang 15 cân vàng nộp cống khố, không may bị kẻ gian lấy cắp, may nhờ người thân và lân bàng giúp đỡ đã gần đủ, nay nhờ sự phát tâm làm phúc cho chút đỉnh để trọn đạo với cha, nếu không, cha nàng sẽ mang tội nặng. Huyền Quang động lòng thương cảm, nói với tăng ni: “Ta vì người này để quảng đức hiếu sinh của Hoàng đế và làm một lương đồ cứu khổ cho chúng sinh”. Một tiểu tăng nói: “Pháp luật là công cộng của thiên hạ, kẻ có của không biết giữ gìn cẩn thận, theo pháp luật mà trị là điều lệ công. Nay ta mang vàng công đức để lấy ơn riêng. Vậy có nên lấy ơn riêng mà bỏ phép công không?”. Huyền Quang thấy thế là phải, song vẫn lấy một nén vàng cho thị Bích.

Lấy được vàng, Điểm Bích trở về kinh đô, dựng nên một chuyện hoàn toàn khác sự thật, tâu vua: “Một hôm sư lên chùa tụng kinh, đến trống canh ba, sư cùng các tăng ni về buồng ngủ. Thần thiếp đến bên cạnh phòng của sư, xem sư làm gì. Một lúc sau, sư ngâm một bài kệ rằng:

“Vằng vặc trăng soi đáy nước,
Hìu hiu gió trúc ngâm sênh.
Người hoà tươi tốt cảnh hoà lạ,
Mâu Thích Ca nào thú hữu tình.”

Sư ngâm nga mấy lần. Thần thiếp thấy sư còn thức, vào phòng xin phép sư về thăm mẹ, sang năm lại đến học đạo. Sư giữ thần thiếp lại một đêm và cho thần thiếp một nén vàng”. Nghe xong, vua uất ức, nói: “Nếu việc ấy có thực thì ta đã đạt được kế giăng lưới bắt chim. Nếu việc ấy không có, thì sư này cũng không tránh khỏi cái nghi ngờ qua ruộng dưa mà sửa giày. Vua sai mở hội Vô già ở phía tây kinh thành, mời Huyền Quang về làm án pháp. Sư về đến Thăng Long, thấy sự thể, biết mình đã bị lừa. Sư ngửa mặt lên trời, than vãn, lạy ba lần; cúi xuống đất, lạy ba lần; rồi đứng lên đàn tràng vọng bái mười phương. Vua thấy hình pháp của sư còn thông thấu lòng người cùng trời đất, liền xuống đàn, xin lỗi sư và giáng thị Bích làm người quét chùa Cảnh Linh ở nội điện.

Sau vụ giải oan ở Thăng Long, Huyền Quang trở lại miền Đông Bắc, tiếp tục viết sách, giảng kinh, học trò lúc nào cũng đông đến trên nghìn người. Pháp Loa, vị cao tăng tinh tường, thấy ở Huyền Quang, đệ tử của mình, một tài năng xuất chúng, phong thái lịch duyệt, hy vọng sẽ là người thừa kế sự nghiệp của thiền phái Trúc Lâm. Trên đường chu du mọi miền đất nước để thuyết pháp, giảng kinh, ông luôn luôn cho Huyền Quang đi cùng. Hai người gắn bó với nhau như hình với bóng.

Ngày 5 tháng 2 năm Khai Hựu thứ hai (1330), Pháp Loa đang giảng kinh ở viện An Lạc thì đột ngột mắc bệnh. Ngày 13, sư về viện Quỳnh Lâm tĩnh dưỡng, Ngày 19, bệnh trở lên trầm trọng. Thấy khó qua khỏi, sư cho mời Huyền Quang đến, trao cho những bảo bối mà 22 năm trước Điều ngự đầu đà trao cho sư trước khi nhà vua băng hà, như: áo cà sa, kệ tả tâm, và nói rằng: “Huyền Quang sẽ là người hộ trì, thừa kế sự nghiệp”. Đêm mồng 3 tháng 3 năm ấy, Pháp Loa viên tịch tại viện Quỳnh Lâm. Theo di chúc của nhà sư, xá lỵ của sư được đặt trong tháp, xây sau chùa Thanh Mai. Kể từ đó, sự nghiệp của Thiền phái Trúc Lâm do Huyền Quang chủ trì và trở thành vị Tổ thứ ba của thiền phái này. Nay trước tháp Viên Thông của Pháp Loa tôn giả, tại chùa Thanh Mai, còn tấm bia dựng năm Đại Trị thứ 5 (1362) do Trung Minh biên tập, Huyền Quang hiệu đính. Bia nói về thân thế và sự nghiệp của Pháp Loa, nhưng qua đó có thể thấy một phần quan trọng tiểu sử của Huyền Quang.

Huyền Quang từng ở chùa Thanh Mai 6 năm, rồi về trụ trì Côn Sơn, lập đài Cửu phẩm liên hoa, biên tập kinh sách truyền lại cho đời sau. Ông là một trí thức uyên bác, một nhà sư giầu lòng vị tha, trước tác nhiều kinh sách, như: Ngọc tiên tập, Chư phẩm kinh, Công văn tập, Phổ Tuệ ngữ lục. Thơ văn ông trang nhã, sâu sắc, nay còn 24 bài trong Toàn Việt thi lục.

Ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), sư viên tịch tại chùa Côn Sơn. Vua Trần Minh Tông cho 10 lạng vàng xây tháp ở bên tả phía sau chùa, lấy tên là Đăng Minh bảo tháp (燈明寶塔), đặc phong tự pháp Huyền Quang tôn giả. Tháp Huyền Quang nay vẫn còn, ở sau chùa Côn Sơn, trên đường lên Bàn Cờ tiên và Thanh Hư động, đúng như thư tịch đã ghi, nhưng không phải ngôi tháp ban đầu, xây dựng sau khi Huyền Quang viên tịch. Đây là ngôi tháp đá ba tầng, dựng năm Vĩnh Thịnh 15 (1719), thay cho ngôi tháp đất nung sụp đổ trước đó. Mùa xuân năm 1979, nhóm chuyên gia khảo cổ học của địa phương đã tìm thấy ngôi tháp đất nung ở móng tường bao tháp Đăng Minh. Ngôi tháp này đã được phục nguyên, trưng bày tại Bảo tàng Hải Dương và ở Bảo tàng lịch sử Việt Nam. Đó là một di sản quý hiếm, biểu hiện sự kết hợp hài hoà giữa kiến trúc và điêu khắc thời Trần. Tại quê hương Huyền Quang cũng có một Đăng Minh bảo tháp trước chùa Đại Bi cổ kính, ngôi chùa do Huyền Quang xây dựng lúc sinh thời, trong vườn cây xanh mát, bên dòng sông Thiên Đức, nơi phát nguyên nhiều huyền thoại. Ngôi tháp đá nhỏ bé, xây vào thời Nguyễn, vì đây chỉ là ngôi tháp tưởng niệm. Bên tháp còn bia Lý Trạng nguyên hành trạng, khắc năm Tự Đức 17 (1864), ghi sự tích Huyền Quang-Điểm Bích. Câu chuyện lịch sử ly kỳ này đã trải biết mấy trầm luân, qua bảy thế kỷ để đến với thời đại chúng ta.

Thư tịch cho biết rằng: Vào năm Tuyên Đức nguyên niên (1426), Thượng thư Hoàng Phúc (nhà Minh) khi mang quân xâm lược Việt Nam đã mang sách Tổ gia thực lục - sách ghi sự tích Huyền Quang về nước. Hơn một thế kỷ sau, Tô Xuyên hầu Lê Quang Bí đi sứ nhà Minh, nhận lại được sách từ Hoàng Thừa Tổ, cháu bốn đời của Hoàng Phúc trao trả. Sách được chuyển đến tay Trình Tuyến hầu Nguyễn Bỉnh Khiêm. Vì truyện quá hấp dẫn mà ông đã làm bài Giải trào về Huyền Quang, từ đó sự tích được phổ biến rộng rãi. Đến thế kỷ XVIII, hai nhà sư Quảng Điền và Hải Lượng lấy sách ấy biên tập vào phần cuối của Tam tổ thực lục, khắc in vào năm Cảnh Hưng 16 (1765). Đến thời Nguyễn, người ta lại khắc văn bản ấy lên bia chùa Vạn Tư. Đời sau, những chùa theo thiền phái Trúc Lâm thường có tượng Trúc Lâm Tam tổ, đặt theo một hàng ngang, tính từ trái sang phải là Pháp Loa, Trần Nhân Tông và Huyền Quang. Tại nhà tổ chùa Côn Sơn cũng có một bộ tượng như vậy.

Ngày viên tịch của Huyền Quang là ngày giỗ tổ của chùa Côn Sơn, cũng vì thế mà Côn Sơn trở thành chốn Phật tổ của thiền phái này. Ngày giỗ tổ sau thành ngày hội. Như vậy, Hội mùa xuân Côn Sơn bắt nguồn từ ngày giỗ Trúc Lâm đệ tam tổ, có từ đầu thế kỷ XIV. Hội bắt đầu từ rằm tháng giêng và kéo dài đến cuối tháng. Những thế kỷ trước, Quốc sử ghi rằng: “Cứ đến mùa xuân, trai gái đến chùa dâng hương hàng tuần mới tan, đó là thắng hội của một phương”. Ngày nay cũng vậy, quan sát Hội mùa xuân Côn Sơn, chúng ta thấy khách dự hội có đủ các tầng lớp, nhưng phần lớn vẫn là nam thanh, nữ tú. Họ đến đây từ những ngày đầu năm cho đến cuối mùa xuân. Những ngày nghỉ cuối tuần có cả hàng vạn người, nhưng đông nhất vẫn là trung tuần tháng giêng. Không ít trai gái sau những hội xuân đã kết đôi, trở thành những gia đình hạnh phúc.

Nhiều thế kỷ qua, khách đến chùa Côn Sơn không chỉ lễ Phật, mà còn là dịp du xuân, thăm danh thắng, nơi có những di tích liên quan đến những danh nhân của đất nước, tiêu biểu là Nguyễn Trãi - Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hoá thế giới. Bốn mùa cảnh sắc Côn Sơn đều hấp dẫn khách tham quan, nhưng đến đây vào mùa xuân là thú vui của mọi tầng lớp. Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, cũng đã đến thăm Côn Sơn vào dịp hội xuân năm Ất Tỵ, khi người đã 75 tuổi.


 
NHÀ SỬ HỌC - TĂNG BÁ HOÀNH

Tác giả: admin

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây