TỪ VŨ – HÀNG KÊNH Miếu Vũ duy nhất còn lại của Hải Phòng
- Thứ hai - 06/05/2024 03:37
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Trong thiết chế làng Việt, bộ máy hành chính cấp cơ sở - cấp làng xã, vốn rất gọn nhẹ. Dù cho chính quyền Trung ương bổ nhiệm hay do dân cử thì số xã quan cũng chỉ dăm người. Bên cạnh bộ máy hành chính gọn nhẹ ấy lại có rất nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp, chính trị dưới dạng phường hội, phe giáp thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia phù hợp với hoàn cảnh, địa vị, sở thích, giới tính, nghề nghiệp, trình độ của mình. Nhờ bộ máy hành chính gọn nhẹ, chức trách nhiệm vụ rõ ràng và đặc biệt vai trò của các tổ chức quần chúng rộng rãi, giúp cho công việc làng xã vận hành có quy củ, chính lệnh của Nhà nước được thi hành. Tất nhiên, do nền sản xuất nông nghiệp với đặc thù Việt Nam giữ vai trò chủ đạo và chính thể phong kiến lấy Nho giáo làm quốc đạo, lại chịu ảnh hưởng của phong kiến Trung Hoa nên những tiêu cực rất khó tránh.
Trong thiết chế làng Việt, bộ máy hành chính cấp cơ sở - cấp làng xã, vốn rất gọn nhẹ. Dù cho chính quyền Trung ương bổ nhiệm hay do dân cử thì số xã quan cũng chỉ dăm người. Bên cạnh bộ máy hành chính gọn nhẹ ấy lại có rất nhiều tổ chức xã hội nghề nghiệp, chính trị dưới dạng phường hội, phe giáp thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia phù hợp với hoàn cảnh, địa vị, sở thích, giới tính, nghề nghiệp, trình độ của mình. Nhờ bộ máy hành chính gọn nhẹ, chức trách nhiệm vụ rõ ràng và đặc biệt vai trò của các tổ chức quần chúng rộng rãi, giúp cho công việc làng xã vận hành có quy củ, chính lệnh của Nhà nước được thi hành. Tất nhiên, do nền sản xuất nông nghiệp với đặc thù Việt Nam giữ vai trò chủ đạo và chính thể phong kiến lấy Nho giáo làm quốc đạo, lại chịu ảnh hưởng của phong kiến Trung Hoa nên những tiêu cực rất khó tránh.
Trong các tổ chức chính trị, xã hội của làng Việt cổ có hai tổ chức mà chính quyền cũng như dân làng đều kính nể, tin tưởng vì uy tín, vai trò, địa vị của nó. Đó là Hội Tư văn và Hội Tư vũ.
Hội Tư văn thờ tiên thánh, tiên hiền gồm những nhà khoa mục hưu trí, những người đậu đạt trong các kỳ thi Nho học không ra làm quan, chí ít cũng là người học hành có trình độ nhất định ( những làng ít văn học). Tùy hoàn cảnh làng, Hội Tư văn có văn chỉ hay văn từ để thờ. Hằng năm cứ vào mùa xuân, mùa thu, vào ngày đinh đầu tiên thì làm lễ tế tiên hiền, tiên thánh.
Hội Tư vũ là tổ chức của những người theo võ nghiệp gồm các quan cao cấp hưu trí, các tiến sĩ, cử nhân võ tại quán, các suất đội, đội trưởng đã nghỉ hưu. Hội Tư vũ có miếu vũ hay từ vũ thờ thánh sư nghề võ phương đông là Thượng phụ Khương Thái Công và các lương tướng như Quản Trọng, Tôn Vũ, Điền Nhương Thư, Khổng Minh, Quách Tử Nghi, Nhạc Phi ...
Miếu Vũ còn thờ các danh tướng Việt như Trần Hưng Đạo cùng võ thần khai quốc của mỗi triều đại. Hằng năm, vào tháng trọng xuân, trọng thu, sau lễ tế ở miếu thờ Lịch đại đế vương một ngày thì tế lễ ở miếu Vũ.
So với miếu Vũ của Trung Quốc thì ở ta có khác. Từ Nguyên ghi: “ Theo quy chế cũ ở kinh sư và các tỉnh đều dựng miếu Quan Đế ( Quan Vũ). Đến năm dân quốc thứ 3 (1913), bộ Lục Hải quân trình xin thờ chung Quan Vũ đời Thục Hán, nhạc phi đời Tống và 24 vị tướng được thờ theo. Hằng năm, mùa xuân, mùa thu tổ chức tế lễ. Miếu Vũ cũng được sùng kính như miếu Văn.
Miếu Vũ ở kinh đô Thăng Long chưa kê cứu được, nhưng khi triều Nguyễn đặt đô tại Huế thì ở Hà Nội, miếu Vũ không được coi trọng nên còn ít tư liệu. Có lẽ về sau đến ngày tế lễ, các quan tỉnh Hà Nội làm lễ tại đình Trung Liệt, thôn Cổ Tân, huyện Thọ Xương, gần gò Đống Đa. Đền này dựng từ đời Lê Chính Hòa thờ Quan Đế, cho Chu Xương, Quan Bình được phối thờ, lại thờ phụ Lê Lai, công thần chết vì Quốc nạn thời Lê sơ. Thời Pháp thuộc, thân hào Hà Nội lại thờ một số lương tướng đời Nguyễn hi sinh vì nước như: Đoàn Thọ, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu ...
Trên đây là miếu Vũ quốc gia, miếu Vũ các tỉnh dựng theo quy chế triều đình. Còn ở các phủ, huyện, xã, nhà nước không đặt. Nhưng việc thờ tự tiên hiền, hậu hiền theo nguyện vọng của dân thì được tự do. Nếu làng nào có lương tướng thì được lập miếu thờ do Hội Tư vũ sở tại lo liệu việc thờ tự. Từ Vũ Hàng Kênh còn lại cho đến ngày nay là một trong số đó. Đây là trường hợp đặc biệt hiếm thấy, kể cả những làng nhiều quan võ nổi tiếng như Trung Hành – Hải An – Hải Phòng, Quế Võ – Bắc Ninh ... cũng không thấy có.
Hàng Kênh, một làng cổ của Hải Phòng, tên cũ là Kênh Dương, làng có nhiều người đậu đạt, làm quan to cả văn lẫn võ. Do đó, làng có miếu Văn, miếu Vũ, đình chùa, công quán, hàn lâm sở ( thờ cô hôn) ... Những đình chùa, miếu mạo ở đây đều to đẹp, khang trang, hầu hết đã được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia, được nhân dân sùng bái, giữ gìn, tôn tạo. Riêng Từ Vũ, trong chiến tranh phá hoại, Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng cho Đoàn Múa rối thành phố sử dụng làm nơi diễn tập, làm nhà ở cho một số cán bộ. Do đó, ban thờ bị cải tạo, ngai thờ, câu đối, đại tự cùng đồ tế khí hầu hết không còn nên khó kê cứu, đặc biệt là các nhân vật được thờ. Hiện dân sở tại chỉ nhớ tên và tế lễ một vị tướng đời Trần, người bản xã là Vũ Chí Thắng.
Theo thần tích, ông dòng võ tướng, từ thiếu thời đã ham rèn luyện, nghiên cứu binh thư, binh pháp. Ông đã đi nhiều nơi hiểm trở để nghiên cứu địa hình, địa vật, nghĩ cách bố trận bài binh, lại cùng bạn bầu trai tráng tập dượt trận đồ. Khi giặc Nguyên vào xâm lược nước ta, Tiết chế Trần Hưng Đạo tuyển quân, Vũ Chí Thắng lập tức đem đội dân binh ứng mộ. Thấy quân của họ Vũ đội ngũ chỉnh tề, người chỉ huy uy phong lẫm liệt, Vương rất vui lòng, liền tiến cử với nhà vua, Vua phong chức chỉ huy sứ, giúp Trần Hưng Đạo bố phòng miền duyên hải vốn là địa bàn Vũ Chí Thắng thông thuộc. Ông đã dự nhiều trận, xông pha hiểm nguy giành nhiều chiến thắng. Có lần ông sai quân mặc giả quần áo quân Nguyên vào trại giặc, thực hiện thành công thế nội công, ngoại kích. Trong trận chống quân Nguyên lần thứ hai ( 1288), Vũ Chí Thắng dâng kế chặn đường sông Giá, buộc thủy quân địch do Ô Mã Nhi chỉ huy phải rút theo đường sông Bạch Đằng, nơi Trần Hưng Đạo bố trí trận địa cọc, khiến thuyền địch bị tan đắm, bộ chỉ huy bị bắt sống.
Do tài trí, công lao, đức độ của vị nhân tướng nên hai vua Trần và Quốc công tiết chế tin cậy, phong đến chức Điện tiền đô Chỉ huy sứ kiêm Quản đội Cấm binh, được tham dự chiều chính. Ông qua đời năm 72 tuổi, là người được cả danh lẫn thọ, trong triều, ngoài nội đều tôn kính. Khi qua đời, dân làng thờ ông ở Từ Vũ.
Đình Từ Vũ đã được các cấp chính quyền phê duyệt và tu bổ khang trang sau khi hoàn thành dự án đường Hồ Sen - Cầu Rào 2.
Trong các tổ chức chính trị, xã hội của làng Việt cổ có hai tổ chức mà chính quyền cũng như dân làng đều kính nể, tin tưởng vì uy tín, vai trò, địa vị của nó. Đó là Hội Tư văn và Hội Tư vũ.
Hội Tư văn thờ tiên thánh, tiên hiền gồm những nhà khoa mục hưu trí, những người đậu đạt trong các kỳ thi Nho học không ra làm quan, chí ít cũng là người học hành có trình độ nhất định ( những làng ít văn học). Tùy hoàn cảnh làng, Hội Tư văn có văn chỉ hay văn từ để thờ. Hằng năm cứ vào mùa xuân, mùa thu, vào ngày đinh đầu tiên thì làm lễ tế tiên hiền, tiên thánh.
Hội Tư vũ là tổ chức của những người theo võ nghiệp gồm các quan cao cấp hưu trí, các tiến sĩ, cử nhân võ tại quán, các suất đội, đội trưởng đã nghỉ hưu. Hội Tư vũ có miếu vũ hay từ vũ thờ thánh sư nghề võ phương đông là Thượng phụ Khương Thái Công và các lương tướng như Quản Trọng, Tôn Vũ, Điền Nhương Thư, Khổng Minh, Quách Tử Nghi, Nhạc Phi ...
Miếu Vũ còn thờ các danh tướng Việt như Trần Hưng Đạo cùng võ thần khai quốc của mỗi triều đại. Hằng năm, vào tháng trọng xuân, trọng thu, sau lễ tế ở miếu thờ Lịch đại đế vương một ngày thì tế lễ ở miếu Vũ.
So với miếu Vũ của Trung Quốc thì ở ta có khác. Từ Nguyên ghi: “ Theo quy chế cũ ở kinh sư và các tỉnh đều dựng miếu Quan Đế ( Quan Vũ). Đến năm dân quốc thứ 3 (1913), bộ Lục Hải quân trình xin thờ chung Quan Vũ đời Thục Hán, nhạc phi đời Tống và 24 vị tướng được thờ theo. Hằng năm, mùa xuân, mùa thu tổ chức tế lễ. Miếu Vũ cũng được sùng kính như miếu Văn.
Miếu Vũ ở kinh đô Thăng Long chưa kê cứu được, nhưng khi triều Nguyễn đặt đô tại Huế thì ở Hà Nội, miếu Vũ không được coi trọng nên còn ít tư liệu. Có lẽ về sau đến ngày tế lễ, các quan tỉnh Hà Nội làm lễ tại đình Trung Liệt, thôn Cổ Tân, huyện Thọ Xương, gần gò Đống Đa. Đền này dựng từ đời Lê Chính Hòa thờ Quan Đế, cho Chu Xương, Quan Bình được phối thờ, lại thờ phụ Lê Lai, công thần chết vì Quốc nạn thời Lê sơ. Thời Pháp thuộc, thân hào Hà Nội lại thờ một số lương tướng đời Nguyễn hi sinh vì nước như: Đoàn Thọ, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu ...
Trên đây là miếu Vũ quốc gia, miếu Vũ các tỉnh dựng theo quy chế triều đình. Còn ở các phủ, huyện, xã, nhà nước không đặt. Nhưng việc thờ tự tiên hiền, hậu hiền theo nguyện vọng của dân thì được tự do. Nếu làng nào có lương tướng thì được lập miếu thờ do Hội Tư vũ sở tại lo liệu việc thờ tự. Từ Vũ Hàng Kênh còn lại cho đến ngày nay là một trong số đó. Đây là trường hợp đặc biệt hiếm thấy, kể cả những làng nhiều quan võ nổi tiếng như Trung Hành – Hải An – Hải Phòng, Quế Võ – Bắc Ninh ... cũng không thấy có.
Hàng Kênh, một làng cổ của Hải Phòng, tên cũ là Kênh Dương, làng có nhiều người đậu đạt, làm quan to cả văn lẫn võ. Do đó, làng có miếu Văn, miếu Vũ, đình chùa, công quán, hàn lâm sở ( thờ cô hôn) ... Những đình chùa, miếu mạo ở đây đều to đẹp, khang trang, hầu hết đã được xếp hạng Di tích cấp Quốc gia, được nhân dân sùng bái, giữ gìn, tôn tạo. Riêng Từ Vũ, trong chiến tranh phá hoại, Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng cho Đoàn Múa rối thành phố sử dụng làm nơi diễn tập, làm nhà ở cho một số cán bộ. Do đó, ban thờ bị cải tạo, ngai thờ, câu đối, đại tự cùng đồ tế khí hầu hết không còn nên khó kê cứu, đặc biệt là các nhân vật được thờ. Hiện dân sở tại chỉ nhớ tên và tế lễ một vị tướng đời Trần, người bản xã là Vũ Chí Thắng.
Theo thần tích, ông dòng võ tướng, từ thiếu thời đã ham rèn luyện, nghiên cứu binh thư, binh pháp. Ông đã đi nhiều nơi hiểm trở để nghiên cứu địa hình, địa vật, nghĩ cách bố trận bài binh, lại cùng bạn bầu trai tráng tập dượt trận đồ. Khi giặc Nguyên vào xâm lược nước ta, Tiết chế Trần Hưng Đạo tuyển quân, Vũ Chí Thắng lập tức đem đội dân binh ứng mộ. Thấy quân của họ Vũ đội ngũ chỉnh tề, người chỉ huy uy phong lẫm liệt, Vương rất vui lòng, liền tiến cử với nhà vua, Vua phong chức chỉ huy sứ, giúp Trần Hưng Đạo bố phòng miền duyên hải vốn là địa bàn Vũ Chí Thắng thông thuộc. Ông đã dự nhiều trận, xông pha hiểm nguy giành nhiều chiến thắng. Có lần ông sai quân mặc giả quần áo quân Nguyên vào trại giặc, thực hiện thành công thế nội công, ngoại kích. Trong trận chống quân Nguyên lần thứ hai ( 1288), Vũ Chí Thắng dâng kế chặn đường sông Giá, buộc thủy quân địch do Ô Mã Nhi chỉ huy phải rút theo đường sông Bạch Đằng, nơi Trần Hưng Đạo bố trí trận địa cọc, khiến thuyền địch bị tan đắm, bộ chỉ huy bị bắt sống.
Do tài trí, công lao, đức độ của vị nhân tướng nên hai vua Trần và Quốc công tiết chế tin cậy, phong đến chức Điện tiền đô Chỉ huy sứ kiêm Quản đội Cấm binh, được tham dự chiều chính. Ông qua đời năm 72 tuổi, là người được cả danh lẫn thọ, trong triều, ngoài nội đều tôn kính. Khi qua đời, dân làng thờ ông ở Từ Vũ.
Đình Từ Vũ đã được các cấp chính quyền phê duyệt và tu bổ khang trang sau khi hoàn thành dự án đường Hồ Sen - Cầu Rào 2.
Nhà sử học NGÔ ĐĂNG LỢI
Trích từ cuốn Từ Vũ Đình thờ thành hoàng Vũ Chí Thắng
Nhà xb Hải Phòng 2015
Trích từ cuốn Từ Vũ Đình thờ thành hoàng Vũ Chí Thắng
Nhà xb Hải Phòng 2015