Hải Phòng học

http://haiphonghoc.vn


ĐẶC ĐIỂM CHUNG THƠ THIỀN PHẬT GIÁO VIỆT NAM

I - PHÂN LOẠI THƠ THIỀN : - Căn cứ nội dung Thơ Thiền được phân làm 2 loại :

1 - Thơ Thiền thiên về triết lý :
Nòng cốt Thơ Thiền này là các bài kệ : Kệ tán, Kệ tụng, Kệ ngộ giải, Kệ phó pháp v.v… Nội dung trực tiếp luận bàn về triết học Phật giáo như : Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Sắc thân, Thực Tướng; Hữu vô; Phật, Pháp, Tăng, Tâm, Vật, Phàm, Thánh, Giới, Định, Tuệ v.v… về cách tu trì, trai giới, nhẫn nhục v.v… Nó quy nạp toàn bộ thế giới vào các phạm trù cơ bản và phổ quát nhất của Phật giáo.
Bộ phận này chiếm tỷ lệ khá lớn trong toàn bộ Thơ Thiền. Thời Lý có 139 đơn vị tác phẩm trên tổng số 148 đơn vị tác phẩm chiếm 94%. Thời Trần có 182 đơn vị tác phẩm trên tổng số 257 đơn vị tác phẩm chiếm 70%. Thời Hậu Lê - Nguyễn chiếm tỷ lệ 80%.
- Về hình thức nghệ thuật : Chủ yếu sử dụng 4 câu (Tứ cú kệ) nhiều thuật ngữ Phật giáo, điển tích, điển cố, hình ảnh Phật giáo. Nó cũng ưu tiên lựa chọn những câu nghi vấn, phủ định các pháp tỉnh lược đảo trang v.v…
2 - Thơ Thiền thiên về trữ tình :
- Thơ Thiền trữ tình gần gũi với thơ trữ tình của thế tục. Nội dung miêu tả các hiện tượng của cuộc sống của thiên nhiên, của tâm trạng con người. Đặc biệt không sử dụng các từ ngữ, hình ảnh, điển cố Phật giáo, không luận giải về các phạm trù triết học Phật giáo… mà miêu tả sự việc trong tính vốn có của nó, rất khách quan, tự nhiên và ngẫu hứng tự nhiên. Nhưng vẫn tiềm tàng ý thức thiền, một trạng thái tâm hồn thiền học khó lý giải và siêu thoát theo tư tưởng vô cùng tận của nhà Phật.
- Về hình thức Thơ Thiền trữ tình không chỉ sử dụng loại Tứ cú kệ hay kiểu câu đặc trưng cho Thơ Thiền như phủ định, nghi vấn…
- Bộ phận Thơ Thiền trữ tình này chỉ chiếm tỷ lệ thấp trong toàn bộ Thơ Thiền, 6% thời Lý, 30% thời Trần và trên 10% thời Hậu Lê - Nguyễn. Nhưng nó lại góp phần đóng góp quan trọng trong sáng tạo văn học Việt Nam.
II - TƯ TƯỞNG HÒA QUANG ĐỒNG TRẦN :    
Tư tưởng “Hòa quang đồng trần” được các Thiền Sư vận dụng theo tinh thần “Phật Pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác” đã tạo nên những hình ảnh việc làm đích thực hiện hữu trong đời sống xã hội. Nổi bật là :
- Sự nhập thế của các Thiền Sư.
- Sự tùy tục trong đời sống đạo.
- Dệt nên những tác phẩm nghệ thuật vừa siêu thoát, bay bổng; Nhưng lại hết sức hiện thực tạo nên một nền văn hóa Phật giáo gắn bó với cộng đồng xã hội, góp phần không nhỏ cho củng cố xây dựng nền móng chính trị kinh tế an ninh xã hội của đất nước. Những tấm gương tiêu biểu trong sáng ấy không xa lạ với mọi người. Đó là Thái Sư Khuông Việt Ngô Chân Lưu, Quốc Sư Đỗ Pháp Thuận, Mãn Giác, Thường Chiếu, Thời Đinh, Lý v.v… Tam Tổ Trúc Lâm thời Trần - Quốc Sư Thông Giác Thủy Nguyệt - Tông Diễn - Hương Hải - Thiền Sư Chân Nguyên v.v…
III - CON NGƯỜI CỦA THƠ THIỀN :
Khác với con người trong văn học, thế tục. Con người trong Thơ Thiền là con người “Lưỡng Thể” gồm cả con người Phật giáo và con người cá nhân.
1 - Con người Phật giáo :
- Đó là con người giác ngộ : Vô ngã, Vô nhân, Vô chúng sinh, Vô thọ giả. Nói một cách khác là con người tự do, con người của vô ngã, con người vô ngôn, con người vũ trụ, con người của cá nhân.
a - Con người tự do :
- Đó là con người đạt tới tự do tuyệt đối khi đã dứt hết mọi sự ràng buộc của nghiệp hoàn toàn vui, vui tự tại theo tinh thần Kinh Kim Cương “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ Tâm”. Đó là con người đã vượt khỏi quy luật sinh tử; như Ni Sư Diệu Nhân đã nói, là con người không vướng vào lý “Sắc không” mà Ỷ Lan Thái Phi đã nêu. Tự do là một chân lý, là quyền sống, là khát vọng của mỗi con người, tìm nó không phải đâu xa lạ, nó chính ở cuộc đời này, ngay trong mỗi con người đều có chất liệu ấy, điều quan trọng là con người có biết khai thác nó hay không? Tìm kiếm nó bằng cách nào? Hãy nghe Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông dạy
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc san hề khốn tắc miên
       Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
      Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”
b - Con người của vô ngã:
Vô ngã là một phạm trù căn bản của Phật giáo, liên quan đến bản thể và cách thế hành trì. Vô ngã được Đức Phật giải thích qua sự phủ định các ngã. Theo Phật giáo con người do “Tứ đại giả hợp” do ngũ uẩn tạo thành nhờ vào các nhân duyên, vì thế con người không có tự ngã. Chân lý này đã được các Thiền Sư liễu ngộ không đạt :
  “Tứ xà cùng hộp vốn nguyên không
Ngũ uẩn non cao chẳng có dòng
             Chân tính thiêng liêng không vướng mắc
Niết Bàn sinh tử mặc lao lung”.
                 (Đào Phương Bình - Nguyễn Đức Vân dịch)
          - Không chỉ có Thiền Sư Đại Xả nêu ngũ uẩn giai không, đồng quan điểm với Ngài còn có rất nhiều các bậc đạt đạo khác như : Vạn Hạnh, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trần Quang Triều v.v…
          c - Con người của vô ngôn :
          Vô ngôn tức là im lặng. Con người vô ngôn tức là con người lặng lẽ đã “Kiến tính thành Phật” trạng thái này vượt ra khỏi phạm vi đối đãi, ngôn ngữ văn tự của thế gian pháp. Người thực hành pháp “Vô ngôn” ấy tiêu biểu là Ni Sư Diệu Nhân : “… Mê chi cầu Phật, hoặc chi cầu thiền - Thiền Phật bất cầu - Uổng khẩu vô ngôn”. Nghĩa là :
                             “Mê mới tìm Phật - lầm mới cầu thiền
                             Thiền Phật chẳng cầu - ngậm miệng không nói”.
                                                             (Trần Thị Băng Thanh dịch)
          Và còn rất nhiều, rất nhiều “Vô ngôn” trong con người các Thiền Sư Việt Nam và các bậc ngộ đạo.
          d -  Con người vũ trụ :
          - Con người vũ trụ là sản phẩm sáng tạo quan trọng trong văn học cổ điển của mọi quốc gia, nhất là các quốc gia phương Đông. Con người vũ trụ chứa đựng rất nhiều quan niệm nhân sinh và thế giới của các nhà thơ cổ điển.
          - Nhờ vào “Thế giới quan vô tận” mà Phật giáo đã tô đậm thêm hình ảnh của con người vũ trụ của thơ ca Thiền Tông nói riêng, của nền văn học cổ điển phương Đông nói chung, mà cụ thể là thơ Thiền thời Lý - Trần và thời Đường Tống ở Trung Hoa. Con người với tư thế vũ trụ thường gắn với hình ảnh bao la vô bờ bến như : Nhật, Nguyệ, Núi, Sông, Rừng sâu, Trời cao, Tam thiên đại thiên thế giới, Hằng hà sa cõi, với không gian và thời gian để được hòa đồng với vũ trụ với hư không mà Thiền Sư Dương Không Lộ là con người tiêu biểu :
                             “Kiểu đất long xà chọn được nơi
                              Tình quê lai láng chẳng hề vơi
                              Có khi xông thẳng lên đầu núi
                              Một tiếng kêu vang lạnh cả trời”.
                              (Ngôn Hoài - Kiều Thu Hoạch dịch)
          Đồng mẫu người như Dương Không Lộ là Tuệ Trung, Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Mãn Giác, Viên Chiếu, Trần Quang Triều, Thông Giác, Tông Diễn v.v…
đ - Con người cá nhân :
Con người cá nhân thường được nói tới trong Thơ Thiền là con người có trí tuệ siêu việt có bản lĩnh, có nghị lực và sức mạnh phi thường có thể tự mình giác ngộ độc lập (Tự giác) biết phá hết những cản trở để được phóng khoáng ung dung tự tại hòa đồng với trời đất vũ trụ.
 “… Đỉnh non xốc thẳng tới nơi
Hú dài phả lạnh bầu trời mênh mông”
              (Ngôn Hoài - Đỗ Quang Liên dịch)
          - Quả vị Đại giác thứ tự theo ba cung bậc : Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn. Tự giác ngộ tức là thấy rõ được “Tự tính” của chính mình. Tự tính ấy tức là “Phật tính”, “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tính”. Thực tế là những con người Phật phải có bản lĩnh, phải làm chủ được chính mình bằng cách “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, đừng nương tựa vào ai khác”. Quán triệt lời dạy của Đức Phật; Thiền Sư Quảng Nghiêm đã bộc lộ tính hiện thực của mình :
                             “… Làm trai lập chí xông trời thẳm
                             Theo gót Như Lai luống nhọc mình”.
                                      (Nguyễn Đức Vân - Đào Phương Bình dịch)

Hòa thượng Thích Thanh Giác
Phó trưởng ban thường trực giáo hội Phật giáo Việt Nam - thành phố Hải Phòng
 

Tác giả: admin

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây