Hải Phòng học

http://haiphonghoc.vn


Dịch lý Trung Hoa ảnh hưởng đến tư tưởng triết học và tầm nhìn vượt thời gian của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm mà người Việt gọi là Trạng Trình là một nhân vật lịch sử nổi tiếng ở Việt Nam thế kỷ XVI. Với khả năng văn chương, tài đào tạo nhân tài và tư duy triết học cùng những dự ngôn chính xác đi trước thời đại (người đời gọi là Sấm Trạng Trình), Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là cây đại thụ văn hóa Việt Nam mà bóng mát tỏa suốt thế kỷ 16.

(Bài viết tham gia Trại sáng tác, chủ đề: Danh nhân văn hóa

Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm).

 

Vài nét tiểu sử, hành trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm:

 

bai 2 trai sang tac 2

(Ảnh: Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng khai mạc Trại sáng tác về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Danh nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm mà người Việt gọi là Trạng Trình là một nhân vật lịch sử nổi tiếng ở Việt Nam thế kỷ XVI. Với khả năng văn chương, tài đào tạo nhân tài và tư duy triết học cùng những dự ngôn chính xác đi trước thời đại (người đời gọi là Sấm Trạng Trình), Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là cây đại thụ văn hóa Việt Nam mà bóng mát tỏa suốt thế kỷ 16.

Nguyễn Bỉnh Khiêm (chữ Hán: 阮秉謙) tên huý là Văn Đạt (文達), tự là Hanh Phủ (亨甫), hiệu là Bạch Vân am cư sĩ. Ông sinh ngày 13 tháng 5 năm 1491 tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương (sau thuộc xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng), nay thuộc xã Nguyễn Bỉnh Khiêm, thành phố Hải Phòng. Trạng Trình mất ngày 28 – 11 – 1585 tại quê nhà, hưởng thọ 95 tuổi, cái tuổi xưa nay hiếm.

Ông là một nhà chính trị, một quân sư giỏi của nhà Mạc, sống đến 95 tuổi. Với phẩm cách thanh cao, tài năng, đức độ và công lao to lớn đối với triều đình, ông được vua Mạc phong đến tước Công ngay khi còn sống (một trong 5 tước hiệu quý tộc mà nếu không phải là người Hoàng tộc thì khó lòng được phong).

Dù chỉ làm quan 8 năm rồi xin về quê trí sĩ, nhưng với tài năng chính trị, quân sự và tầm nhìn rộng, hiểu sâu thời thế hơn nhiều quan lại triều đình, vua Mạc vẫn cho người về hỏi kế sách, có lúc lại vời về kinh tham vấn. Trong khoảng 20 năm sau khi về hưu, Trạng Trình vẫn phục vụ triều đình theo kiểu quan tại gia, cao tuổi rồi mà nhiều khi vẫn xa giá theo vua đi đánh giặc với vai trò quân sư (một số bài thơ của ông nói lên điều đó). Có lẽ trong lịch sử Việt Nam chưa có trường hợp thứ hai nào như vậy.

Tinh thông lý số và giỏi dự đoán tương lai, Trạng Trình đã có những lời khuyên chính xác cho chúa Tiên (Nguyễn Hoàng), cho nhà Mạc và chúa Trịnh, góp phần hình thành cục diện chính trị nước ta ở thời kỳ loạn ly, phức tạp, phần nào giảm bớt nỗi khổ cho nhân dân trong cảnh nồi da nấu thịt của đất nước trong thế kỷ 16 khi các tập đoàn phong kiến tranh giành, đánh giết lẫn nhau.

Nguyễn Bỉnh Khiêm học rộng, hiểu nhiều, tinh thông lý số, có những dự ngôn (dân gian gọi là sấm Trạng Trình) chính xác về các sự việc, hiện tượng xảy ra trước thời đại ông mấy thế kỷ khiến người đời không khỏi thán phục.

Vậy câu hỏi đặt ra là, nếu ông giỏi tiên đoán thời cuộc hẳn biết nhà Mạc sẽ không kéo dài được lâu, vậy sao Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn phò tá bốn đời vua Mạc (từ Mạc Đăng Doanh đến Mạc Phúc Hải)?. Và hẳn ông cũng biết nhà Lê sẽ trung hưng, kéo dài tới 200 năm nữa thì sao không theo chúa Trịnh phò Lê để con cháu sau này được hưởng phúc, kết cục khi nhà Mạc bị diệt thì con cháu ông phải thay tên, đổi họ, trốn tránh khắp nơi để thoát sự trả thù của tập đoàn Lê-Trịnh?. Theo tôi, câu trả lời là, cả đời ông đã kiên định với đạo trung quân, ái quốc của mình với quan niệm “tôi trung không thờ hai chủ”. Vả lại, chắc là Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn hy vọng vào một triều Mạc phục hồi thịnh trị sẽ cứu vãn dân chúng khỏi khổ cực, loạn li như đời vua Đăng Doanh (Mạc Thái Tông).

Trong dân gian lưu truyền nhiều giai thoại về thân mẫu Trạng Trình: Một người mẹ am tường kinh thư, biết dịch lý, giỏi tướng số và khác những phụ nữ cùng thời đại khi tự quyết hạnh phúc của mình, không chịu “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” mà tìm chồng có quý tướng, hy vọng sinh được con sau làm vua. Bà cũng có cách dạy con khác chồng với mục tiêu hướng con tới vị trí quân vương chứ không phải làm bề tôi, dùng văn thơ nuôi dưỡng tâm hồn và chí khí cho con.

Với những giai thoại về Trạng Trình lưu truyền trong dân gian và tài dự ngôn (sấm ký) của ông, người Việt nhiều thế hệ ngưỡng mộ và ông như một vị thánh. Đạo Cao Đài ở Tây Ninh (miền Nam nước ta) tôn Nguyễn Bỉnh Khiêm là Thanh Sơn Chân nhân - một trong 3 vị thánh được thờ tại đây. Trong bức tranh Tam thánh ký hòa ước ở Tòa thánh Tây Ninh, ta có thể thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm được vẽ bên cạnh Victo Hugo (đại văn hào nước Pháp) và Tôn Trung Sơn (nhà cách mạng Dân chủ tư sản Trung Hoa và là Tổng thống đầu tiên của nước Trung Hoa Dân quốc).

1) Khái quát về nền lý học Tống Nho đã ảnh hưởng đến tư tưởng triết học Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Cần phải nhắc đến những nhà Nho học nổi tiếng Trung Quốc mà Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu nhiều ảnh hưởng trong việc lĩnh hội lý học. Trong đó có Thiệu Ung (tự là Nghiêu Phu) – người sáng tạo ra phương pháp bói toán độc đáo “Mai Hoa dịch số” và “Mai Hoa Thi” dự đoán tương lai, một bậc thầy về bói toán và tiên tri trong văn hóa phương Đông cùng với Trình Hạo và Trình Di - các nhà Nho học thời Bắc Tống và Chu Hy (1130 – 1200) - nhà Nho học thời Nam Tống. Họ là những người đặt nền tảng cho Lý học bằng lý thuyết sơ khai về bản thể vũ trụ, đề cao các khái niệm “đạo”, “lý”, “thiên lý”, “khí”, “dục” và xem đó là cơ sở để nhìn nhận và giải quyết mọi việc, mọi quan hệ. Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ảnh hưởng nhiều bởi học huyết của các vị này, đặc biệt là các ông Thiệu Ung, Trình Di, Trình Hạo.

Tuy chịu ảnh hưởng nhiều bởi Lý học thời Tống, song tư tưởng, quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm không hoàn toàn giống bất cứ một nhân vật nào của Tống Nho.

Nếu như ở Tống Nho, dù là Nhị Trình (Trình Di, Trình Hạo) hay Chu Hy đều tập trung vào giải quyết hai mối quan hệ trung tâm là lý – khí, lý – dục với tư tưởng “lý” (là nguyên tắc, cái siêu việt) quyết định “khí” (yếu tố vật chất, năng lượng, nguyên liệu cấu thành nên vạn vật nhưng cũng là nguồn gốc của cảm xúc và dục vọng, mong muốn) đồng thời chủ trương giữ lấy “lý” và bỏ “dục” (tồn thiên lý diệt nhân dục). Trái lại, Nguyễn Bỉnh Khiêm không xem việc giữ “lý”, bỏ “dục” là quan trọng. Trong quan hệ giữa “lý” và “khí” chưa khi nào trong tác phẩm của ông thấy nêu lên và giải quyết mối quan hệ giữa hai khái niệm này. Trong quan hệ giữa “lý” và “dục”, ông chỉ phê phán lòng dục vô hạn độ của bọn tham quan đương thời, còn ở mặt khác, ông lại chủ trương phải thỏa mãn lòng dục của những người nghèo khổ, như nói: “Trời sinh ra dân chúng, no ấm là điều ai nấy đều mong muốn”.

“Ngoài ra, học theo Nhị Trình, song Nguyễn Bỉnh Khiêm không hoàn

toàn khuôn mình theo hệ thống của hai nhân vật này, kể cả Chu Hy và các nhà Tống Nho khác. Qua sự giải thích quá trình hình thành vũ trụ của ông có thể thấy được điều này. Tuy ông cũng như các nhà Tống Nho đều xuất phát từ “thái cực” của Kinh Dịch, nhưng lý thuyết vũ trụ học của ông khác với họ. Nếu như ở Nhị Trình thì trình bày theo đúng trình tự trong Kinh Dịch (thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng,…), ở Châu Đôn Di là: “Vô cực nhi thái cực, thái cực động thì sinh dương, động đến cùng cực thì tĩnh, tĩnh thì sinh âm… Hai khí giao cảm sinh ra vạn vật” (Thái cực đồ thuyết), ở Thiệu Ung là: “Thái cực là một, bất động sinh nhị, nhị tức là thần, thần sinh số, số sinh tượng, tượng sinh hình khí,…”(“Hoàng cực kinh thế”). Còn ở Nguyễn Bỉnh Khiêm thì cho thái cực sinh ra trời, đất và người, do sự nặng nhẹ của khí mà ra: “Thái cực lúc mới phân chia, vị trí thiên địa nhân đã định. Trong và nhẹ thì bay lên là trời, đục và nặng thì lắng xuống là đất, ở giữa tụ lại là người. Tất cả đều bẩm thụ ở một khí.”(Thái cực sơ triệu phân/ Tam tài định quyết vị/ Khinh thanh thượng vi thiên/ Trọng trọc hạ vi địa/ Trung tập nhi vi nhân/ Bẩm thụ thị nhất khí) – Bài “Cảm hứng” trong “Bạch Vân am thi tập”.*

Từ đây cho thấy, Nguyễn Bỉnh Khiêm tuy học các thầy trên, song biết lựa chọn và tiếp thu ở thầy điều gì được xem là hợp lý, đồng thời lại biết kế thừa ở người khác những tư tưởng có ích cho tư duy của mình. Chính các điều trên đã khiến ông trở thành nhà Lý học số một Việt Nam và có một không hai trong khu vực Đông Nam Á. Xin trích dẫn ý kiến của PGS.TS Phạm Lan Oanh – Phó Viện trưởng Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam (VICAST) nhận định về Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Ông là nhân vật có ảnh hưởng sâu rộng ở tầm khu vực Đông Á: Nhiều thư tịch cổ Trung Quốc, Triều Tiên ghi nhận ông như một học giả thông tuệ, được tôn là An Nam Lý học Thái tổ”...

 

 

 

* Nguyễn Bỉnh Khiêm: Nhà lý học/GS.TS Nguyễn Tài Thư//Website Viện nghiên cứu Hán Nôm - http://www.hannom.org.vn, cập nhật ngày 26/8/2007.

“Thư tịch cổ Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản đều có ghi chép về học thuật Đại Việt thời Lê-Mạc và đề cao vai trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm như một học giả minh triết của Đông Á. Nhiều học giả Nhật Bản và Hàn Quốc hiện nay vẫn xem tư tưởng Trạng Trình là những tham chiếu quan trọng khi nghiên cứu trí thức khu vực”.(Nguồn: https://vicast.org.vn/pages/detail/11693/Trang-Trinh-Nguyen-Binh-Khiem-xung-dang-duoc-de-cu-Danh-nhan-van-hoa-the-gioi.html).

Theo các nhà nghiên cứu, tư tưởng lý học của Nguyễn Bỉnh Khiêm có thể lý giải được một số chiều hướng vận động của thế giới hiện thực trong khuôn khổ của xã hội phong kiến phương Đông ít thay đổi, thường lặp lại quy luật đã qua nên cho phép người ta khả năng biết trước khi sự vật chưa xảy ra. Điều này được phản ánh trong những dự ngôn sấm truyền của Trạng Trình. Nhưng cũng phải nói rằng có luận điểm triết học của ông còn mang tính chất gượng ép và thần bí, như bĩ cực thì thái lai (hết thời đen tối thì đến thời tươi sáng), hay “Cùng và thông, được và mất, lẽ nào do con người quyết định?” (Cùng thông, đắc táng khởi do nhân? – “Tự thuật”, bài 8 trong Bạch Vân quốc ngữ), hay “Cùng và thông, được và mất cũng là do trời!” (Cùng thông, đắc táng diệc do thiên – “Trung Tân ngụ hứng”)...

Các nhà nghiên cứu Dịch học phần lớn cho rằng không phải tất cả sấm ký đều là của Trạng Trình và không phải câu sấm truyền nào cũng đều đúng bởi thực tế khách quan thì phong phú và phức tạp, cái tất nhiên đi liền với vô số cái ngẫu nhiên, khiến con người khó xác định tương lai của sự vật. Bản thân Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã nhiều lần nói lên sự hạn chế của mình nói riêng và của con người nói chung trong nhận thức và hành động. Ông cho rằng “Việc trái với thời, hàng vạn chỗ bất đồng” (Sự dữ thời vi vạn bất đồng, Nguyên đán ngẫu thành - bài 3); “Nhân sinh thập nguyện cửu thường vi” (Đời người mười mong muốn thì đến chín là trái ý) – “Hoài cổ”. Như vậy thì sao ông có thể biết trước được các sự việc cụ thể diễn ra trong tương lai mà bản thân không được mục kích, hơn nữa lại cách xa hàng trăm năm sau như “Sấm ký” lưu truyền trong dân gian.

2) Về tính chính xác, chính danh của Sấm ký:

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thiên Thụ tại website: https://nghiencuulichsu.com/2024/07/16/sam-trang-trinh-toan-tap, nói chung, các bản sấm ký đều có chung đặc điểm sau:

- Tính bí mật:

Trước cách mạng Tháng 8/1945 Sấm Ký mang tính bí mật, thuộc phạm vi quốc cấm, người dân không dám công khai truyền tay hoặc bàn thảo bởi ngày xưa các nho sĩ dùng Sấm ký để chống triều đình, chống Pháp, mà bọn tay sai của chính quyền cũng dùng sấm ký vu oan giá họa cho dân lành cho nên quan quân đã bắt bớ dân chúng nên nếu có thì người ta cũng phải cất giấu các tài liệu này. Nay thì khác, người ta có thể tự do tìm đọc, bình phẩm, miễn là không tuyên truyền trái ý nghĩa Sấm ký theo kiểu mê tín.

- Tính thiếu chân thực:

Thói quen của người sao chép, biên khảo Sấm ký là tự tiện sửa chữa, thêm bớt các bản chính hoặc bóp méo văn nghĩa cho hợp ý tứ phục vụ quyền lợi của phe nhóm họ.

- Tính không thống nhất: Có thể một người viết mà chia ra nhiều đoạn, do viết nhiều thời gian khác nhau. Có thể là do nhiều bản của nhiều người khác nhau mà người sau chép chung làm một tập. Như bản của nhà xuất bản Mai Lĩnh (năm 1930) ít nhất là có 2 tập khác nhau.

Một số là thu thập nhiều bài sấm ký khác nhau cho vào một tập như bàn Thiên Phúc Nguyễn Phúc Ấm (Nxb. Hương Sơn xuất bản trước 1954), cho nên trong đó có nhiều bài thơ. Có thể do nhiều bản gốc khác nhau. Cũng có kẻ cắt vài đoạn bỏ vào cái khuôn của mình để mập mờ đánh lận con đen trong chính sách tuyên truyền dối trá của họ. cũng có thể do phương cách làm việc chưa khoa học, nghĩ đến đâu, viết đến đó, nhiều khi trùng hợp, cái trước nói sau, việc sau nói trước.

Cũng có thể người ta tráo đoạn trước ra sau, đoạn sau lên trước để giữ bí mật, điều này gây khó khăn cho người nghiên cứu.

- Tính mơ hồ: Có những câu sấm ý nghĩa dễ đoán, nhưng cũng có câu có thể hiểu theo nhiều nghĩa, khiến người ta khó xác định chân ý.

3) Vài nét về giá trị “sấm truyền” của Trạng Trình:

Nếu những giai thoại về lời khuyên hoặc câu phán truyền được coi là những câu sấm của Trạng Trình thì có thể coi đó như cách thức xử lí các vấn đề chính trị - xã hội dựa trên các nguyên tắc thiên địa lý (Hai trong ba tư duy triết học: Thiên lý, địa lý và Nhân lý mà ông quán triệt). Chẳng hạn, lời sấm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” (một dãy núi ngang có thể yên thân muôn đời), khuyên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, vừa làm dịu đi mối bất hòa giữa Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng lúc đó, góp phần hình thành 9 đời chúa Nguyễn, rồi nhà Nguyễn sau này với 13 đời vua, mở rộng cương thổ nước ta về phía Nam; hay lời sấm khuyên nhà Mạc để kéo dài thêm sự tồn tại trên đất Cao Bằng: “Cao Bằng tuy thiểu, khả nhiên sổ thể” (Đất Cao Bằng tuy nhỏ cũng có thể kéo dài được mấy đời) cũng là sự kết hợp Nhân lý dựa trên Thiên lý và Địa lý nhằm giảm thiểu tác hại của cuộc chiến nồi da nấu thịt giữa 2 tập đoàn Lê - Trịnh với nhà Mạc, hay câu “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong” (Vua Lê còn thì chúa Trịnh còn, nhà Lê mất thì chúa Trịnh cũng không tồn tại) tạo ra hình thức vua Lê chúa Trịnh song tồn, khả dĩ có thể yên nước, lợi dân trong một hoàn cảnh nhất định. Tất cả những dự ngôn này và một số giai thoại khác của Trạng Trịnh đã được xác nhận khi được ghi trong Đại Nam thực lục tiền biênĐại Nam nhất thống chí của “Quốc sử quán” - Cơ quan ghi sử chính thống của triều Nguyễn nên có thể tin đó là lời phán của Trạng Trình chứ không phải là do người nào bịa ra. Tuy nhiên, tôi nghĩ (cũng như nhiều học giả khác quan niệm) không phải bài sấm truyền nào lưu truyền trong dân gian hay ghi chép trong thư tịch cũng do Trạng Trình sáng tác. Một số câu sấm, bài sấm có thể đúng là của Trạng Trình, nhưng cũng có nhiều câu là do người đời sau biên cải, thêm thắt nhằm thần thánh hóa ông Trạng do mình hâm mộ, tôn thờ. Cũng có những câu sấm gán với hiện tượng, sự kiện lịch sử có thật xảy ra ở nơi này, nơi kia là do người ta sáng tác ra sau khi sự kiện, hiện tượng đó xảy ra và gán cho nó là dự báo trước của cụ Trạng. Cũng không loại trừ việc một số đối tượng, thế lực chính trị muốn có lợi cho mình đã bịa ra những câu thơ được gọi là sấm Trạng Trình để thu phục quần chúng nhân dân. Về vấn đề này đã có nhiều nhà nghiên cứu phân tích, chứng minh.Nhiều nội dung trong sấm ký hiện đã được giải mã (36 giai thoại và dự ngôn). Đến nay đã có nhiều giai thoại và sự việc, sự kiện lịch sử gắn với sấm ký Trạng Trình đã được chứng minh là ứng nghiệm trên thực tế như:

- Chúa Trịnh phò vua Lê để cùng tồn tại.

- Khuyên chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) cát cứ ở Thuận Hóa để phát triển sự nghiệp.

- Khuyên Mạc Mậu Hợp chọn Cao Bằng cát cứ mấy đời.

- Nguyễn Công Trứ phá đền

- Nguyễn Nhạc xuất thân từ biện lại làm vua Tây Sơn.

- Bằng quận công Nguyễn Hữu Chỉnh nắm quyền lớn rồi chết.

- Cha con Quang Trung và Cảnh Thịnh làm vua 14 năm

- Nhà Nguyễn tin và mất nước về tay người phương Tây

- Khởi nghĩa Yên Bái

- Vị thánh Hồ Chí Minh sinh ở Nam Đàn (Nghệ An)

- Thế chiến II

- Cái chết của Toàn quyền Pierre Pasquier

- Cách mạng tháng Tám

- Tiếp quản Thủ đô Hà Nội 1954

- Chiến tranh biên giới Tây-Nam

- Chiến tranh Iraq.

4) Văn bản sấm Trạng Trình:

Theo tôi được biết, tài tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được truyền tụng ngay từ khi Trạng Trình còn sống, nhưng tài liệu xưa nhất chỉ còn lại trong sách Công Dư Tiệp Ký (Ghi nhanh lúc rỗi việc công) của Vũ Phương Đề - quan Đốc đồng Hải Dương (thời Nguyễn) xưa. Sách này viết sau khi Trạng Trình mất tới 170 năm (năm 1415), trong đó có các giai thoại về tài tiên tri của Trạng Trình. Hiện nay có rất nhiều bản in được gọi là Sấm Trạng Trình (chủ yếu in trước Cách mạng Tháng 8/1945) bằng cả chữ Nôm và Quốc ngữ, trong đó có trên 20 bản Quốc ngữ khác nhau. Mỗi bản in lại ít nhiều có sự khác biệt trong câu, chữ tuy cùng nói về một sự kiện mà người ta cho rằng Trạng Trình tiên đoán.

Hiện nay tại các trung tâm lưu trữ quốc gia và thư viện Việt Nam có nhiều bản Sấm ký Trạng Trình (gốc và sao chép). Trong thư tịch Sấm ký lưu trữ ở Hà Nội hiện nay có nhiều bản Sấm Trạng Trình chữ Nôm và các bản này cũng khác nhau.

Sấm ký ở bản A có 262 câu, gồm 14 câu “cảm đề” và 248 câu “sấm ký” là gốc của bản Quốc ngữ Hoàng Xuân và Thời Tập. Bản AB.444 lưu trữ ở Viện Hán Nôm là gốc của bản quốc ngữ Nxb. Mai Lĩnh (1930). Ngoài bản A còn có ít nhất ba dị bản về sấm Trạng Trình. Trong 20 bản sấm ký có 7 bản là tiếng Hán Nôm lưu tại Thư viện Viện Khoa học Xã hội (nay thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội VN) và Thư viện Quốc gia Việt Nam. Còn trước năm 1975, tại miền Nam đã có khoảng 20 bản Sấm ký quốc ngữ.

Trong thư mục Hán Nôm lưu trữ tại Thư viện Viện Hàn lâm khoa học xã hội và Thư viện Quốc gia Việt Nam hiện còn 7 tài liệu chữ Nôm sau đây có Sấm Trạng Trình:

1. Bạch Vân Nguyễn Trình Quốc công lục ký 25 trang, ký hiệu VNB3

2. Trạng Quốc công ký: 2 quyển: Ký hiệu VHV 1453/b (36 trang); VHV 102 (32 trang).

3. Trình Quốc công sấm ký: Ký hiệu AB345 (34 trang). 4. Trình tiên sinh quốc ngữ: Ký hiệu AB444 (22 trang).

5. Sấm ký bí truyền: Ký hiệu VHV 2261 (34 trang).

6. Thiên Nam ngữ lục ngoại ký có phụ chép một số câu sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm và Thượng thư Phùng Khắc Khoan (Ký hiệu AB192).

7. Nhất tích thiên văn gia truyền (Ký hiệu VHV 1382) có một bài sấm nói là của Trạng Trình.

Ngoài ra theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thiên Thụ: “Phùng thương Thư Ký là một bản đã có từ lâu nhưng chưa ai phiên dịch. Đọc bản này thì cho thấy rằng ngoài Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có Phùng Khắc Khoan cũng soạn Sấm ký. Còn có ai nữa không? Bản của Phùng Khắc Khoan có vài đoạn giống bản của Nguyễn Bỉnh Khiêm”. (Nguồn: “Sấm Trạng Trình toàn tập” đăng trên website ở đường link https:// nghiencuulichsu.com, cập nhật ngày 16/7/2024).

Tóm lại, còn rất nhiều câu hỏi bỏ ngỏ về Sấm Trạng Trình cần được các nhà nghiên cứu tìm tòi, thẩm định, làm rõ.

Kết luận:

Sấm ký thể hiện kiến thức uyên thâm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm về Dịch học khi ông dùng các quẻ Dịch, Thái Ất để nhìn thấu quy luật thịnh suy của lịch sử, dự báo tương lai đất nước.

Sấm ký không chỉ là lời tiên tri mà còn là nguồn tư liệu lịch sử, văn hóa quan trọng để chúng ta nghiên cứu, tiên liệu thời cuộc.

Để hiểu đúng di sản này, cần có cách tiếp cận khoa học, khách quan, tránh việc diễn giải mê tín dị đoan, đồng thời bảo tồn các bản gốc quý giá.

Tóm lại, chúng ta cần xem Sấm ký Trạng Trình là một tác phẩm dịch học đa nghĩa, phản ánh trí tuệ, tấm lòng yêu nước của Nguyễn Bỉnh Khiêm, là tài liệu lịch sử và văn hóa cần được nghiên cứu sâu rộng hơn nữa cùng với thơ văn của ông nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm.

 

Phạm Văn Thi, Hội VNDG Hải Phòng.

Tác giả: admin

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây