Lễ hội truyền thống đình Cung Chúc, xã Vĩnh Thịnh, Hải Phòng - Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu địa phương cần nâng cấp giá trị
- Thứ tư - 19/08/2026 22:41
- In ra
- Đóng cửa sổ này
Hàng năm, từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 11 âm lịch (ÂL), tại làng Cung Chúc, xã Trung Lập, huyện Vĩnh Bảo cũ (nay thuộc xã Vĩnh Thịnh, thành phố Hải Phòng) thường diễn ra lễ hội truyền thống đình Cung Chúc, cử hành trong 3 - 4 ngày, trong đó chính hội là ngày 10/11 ÂL.
(Tham luận Tọa đàm khoa học “Bảo tồn, phát huy giá trị lễ hội đình Cung Chúc, xã Vĩnh Thịnh, tp. Hải Phòng ngày 22/2/2026)

Ông Phạm Xuân Thanh – Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Hải Phòng phát biểu tại Tọa đàm.
Hàng năm, từ ngày 10 đến ngày 12 tháng 11 âm lịch (ÂL), tại làng Cung Chúc, xã Trung Lập, huyện Vĩnh Bảo cũ (nay thuộc xã Vĩnh Thịnh, thành phố Hải Phòng) thường diễn ra lễ hội truyền thống đình Cung Chúc, cử hành trong 3 - 4 ngày, trong đó chính hội là ngày 10/11 ÂL.
Lễ hội đình Cung Chúc là hoạt động tri ân công đức các vị Thành hoàng làng của nhân dân địa phương bao đời nay, thể hiện đạo lý “Ăn quả nhớ người trồng cây” của người Việt. Đây là loại hình văn hóa phi vật thể thuộc dạng ký ức di sản, có giá trị văn hóa, lịch sử sâu sắc trong đời sống tinh thần và tâm linh người dân Cung Chúc.
Trước năm 1938, làng Cung Chúc thuộc tổng Viên Lang, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương. Từ năm 1938 đến trước cách mạng Tháng Tám 1945 làng (cũng là xã) Cung Chúc thuộc tổng Viên Lang, huyện Vĩnh Bảo, phủ Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Sau này thôn Cung Chúc thuộc huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (từ tháng 7 năm 2025 Cung Chúc gồm ba xóm 6, 7, 8 thuộc xã Vĩnh Thịnh thành phố Hải Phòng).
Theo bản sao Tờ trình năm 1938 của Lý trưởng xã Cung Chúc tên là Lê Văn Thu gửi quan Tổng đốc Hải Dương và Tri huyện Vĩnh Bảo thì ở địa phương thờ 4 vị Thành hoàng, với 18 sắc phong qua các triều đại phong kiến:
- Vị thứ nhất: Quang Hiển, Diệu phù Chiêu cảm Quý Minh Đại vương (sắc phong Thượng đẳng thần).
- Vị thứ hai: Uyên Thâm Thanh tĩnh Long cung Đại vương (sắc phong Thượng đẳng thần).
- Vị thứ ba: Am lam Phổ tế Đài bàng hải khẩu Đại vương (sắc phong Trung đẳng thần).
- Vị thứ tư: Dực bảo Trung hưng Linh phù Cư sĩ Phu nhân tôn thần (sắc phong Trung đẳng thần).
Trước đây sự tích của các vị Thành hoàng có công hộ quốc, an dân được ban sắc phong đều được khắc ghi ở Bia thần tích Thành hoàng, nhưng từ trước năm 1938 đã mất theo lời khai của Lý trưởng Lê Văn Thu trong Tờ trình nói trên: “Sự tích của các ngài được ghi ở bia thần tích, do can qua nay đã mất, các mỹ tự các vị được hoàng đế các triều phong vị đều có ghi trong văn tế của làng”.
Thần tích bốn vị Thành hoàng lưu ở đình hiện nay là được ghi theo truyền ngôn từ các đời trước nên nhiều khả năng đã tam sao thất bản, không còn chính xác. Xin nêu ra đây danh tính 4 vị Thần hoàng này theo tư liệu phổ biến hiện nay:
Thần Quý Minh hay Đức Thánh Quý Minh Đại vương theo truyền thuyết là một trong ba anh em kết nghĩa cùng Tản Viên sơn thánh (ba vị tướng được phong thánh gồm Đức Thánh Tản Viên, Đức Thánh Cao Sơn và Đức Thánh Quý Minh). Họ là những danh tướng trụ cột của Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ Vương), có công giúp Vua chống quân Thục xâm lược. Quý Minh Đại vương là người có công trấn thủ vùng ven biển Thái Bình, Nam Định và phía nam sông Luộc ngày nay. Ngài được các triều đại ban chiếu sắc phong là Thượng đẳng thần, được nhân dân nhiều địa phương thờ phụng, trở thành vị Thành Hoàng làng ở nhiều nơi. Theo tín ngưỡng dân gian, Quý Minh Đại vương thường được coi là Sơn thần, nhưng cũng có vùng Ngài lại được coi là Thủy thần (nhất là ở những vùng đất nhiều sông, suối và vùng trũng thấp). Ở làng Cung Chúc, thánh Quý Minh được coi là Đệ nhất Thành Hoàng có lẽ bởi Ngài là một trong ba vị Quốc thần của người Việt chia nhau cai quản 3 ngọn núi tổ của nước ta (Ba Vì). Hàng năm, lễ hội truyền thống đình Cung Chúc tổ chức cũng chính vào dịp ngày mất của Ngài là 12 tháng 11 ÂL.
Theo các cụ trong Ban Khánh tiết đình Cung Chúc, bốn vị Thành Hoàng làng ngoài việc được phối thờ tại đình Cung Chúc, từng vị còn được thờ riêng tại 4 ngôi miếu ở 4 vị trí bao quanh làng Cung Chúc để trấn giữ, bảo vệ sự bình an của làng quê. Trong đó: Phía Đông là miếu Cửa Đìa thờ thần Quý Minh; phía Bắc là miếu Đồng Gòi ven đê sông Luộc thờ vị Thanh Tĩnh Long cung (Trương Hống) - vị tướng được lịch sử ghi lại là có công giúp Việt vương Triệu Quang Phục chống quân Lương xâm lược và âm phù cho Lý Thường Kiệt thắng quân Tống trên sông Như Nguyệt sau này. Trương Hống được dân gian suy tôn là một trong các vị thánh Tam Giang cai quản 3 con sông Cầu, Thương, Đuống; Phía Nam là miếu Chiều Bàng thờ Hải khẩu Đài Bàng – vị thánh trấn giữ vùng đất phía Nam sông Luộc và cửa sông Thái Bình, cửa Ba Lạt. Theo chính sử thì ông là sứ quân Trần Lãm – một trong 12 vị tướng cát cứ các vùng miền Bắc nước ta. Trần Lãm đã giúp Đinh Bộ Lĩnh buổi đầu sự nghiệp thu phục các sứ quân; Phía tây là miếu Đồng Láng (miếu Đệ Tứ) thờ vị Thuần Chính Linh ứng phu nhân (có thể là Vĩnh Hoa công chúa – một bộ tướng đắc lực của Hai Bà Trưng) có công đầu trong 20 nữ tướng từng giúp Trưng nữ Vương chống quân Đông Hán xâm lược.
Tuy nhiên, danh tính các vị Thánh được bậc cao niên ở Cung Chúc phỏng đoán như vậy cũng chỉ là giả thuyết, bởi nếu chỉ căn cứ vào sắc phong thì không thể biết được danh tính, công trạng cụ thể của các vị Thần hoàng được thờ tại Cung Chúc (trừ Quý Minh Đại vương). Họ có phải là nhân thần hay thiên thần thì chưa có chứng cứ cụ thể bởi bia đá khắc thần tích tứ vị hiện đã bị mất theo lời Lý trưởng Lê Văn Thu trong Tờ trình nói trên. Chính vì vậy mà vẫn còn nảy sinh những tranh cãi quanh danh tính và công trạng của các vị Thành hoàng, nhưng có một điều chắc chắn là họ phải có công hộ quốc, an dân và ít nhiều gắn với địa phương thì mới được người dân nơi đây tôn thờ, bởi theo lời Lý trưởng trong bản sao Tờ trình năm 1938 thì “Nơi thờ tự các vị, các đời chuyền lại là đồn sở của các ngài, sau là nơi thờ cúng các ngài”. Tức là các vị tướng đã đóng quân, hoặc tuyển quân, luyện quân tại khu vực mà sau này người ta lập miếu thờ.
Theo những ghi chép trong thư tịch và văn bia còn lưu giữ ở đình Cung Chúc, nhất là tấm bia Hậu thần ghi đợt trùng tu đình lớn vào năm 1669 triều vua Lê Huyền Tông thì đình Cung Chúc được xây dựng sớm nhất vào triều Hậu Lê. Với những giá trị văn hóa, lịch sử đặc sắc, đình Cung Chúc là một trong những di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia ở Việt Nam được Bộ Văn hóa công nhận sớm nhất (ngày 28/4/1962).
Kể từ khi hình thành đình thì việc phụng thờ Thành Hoàng làng chắc chắn đã được chức dịch và người dân nơi đây tiến hành như tất cả những nơi khác trên miền Bắc với hoạt động tiêu biểu là tổ chức lễ hội tri ân các Thần hoàng. Có nghĩa là Lễ hội đình Cung Chúc chắc phải có từ trước năm 1669 (thế kỷ 17).
Điều này đã được ghi rõ trong Tờ trình gửi quan trên của Lý trưởng xã Cung Chúc năm 1938: “Bản xã lấy ngày 12 tháng 11 âm lịch ta là ngày hóa của thần làm ngày bản xã vào đám phụng sự tứ vị Thành hoàng. Bản xã thờ tứ vị bằng bài vị tại khám tổng trong cấm cung, chỉ có các quan về tế hay ngày làng vào đám mới được mở cửa cung”, và: “...Đình có đồi, đống, đường, sông ngòi, hồ nước vây quanh. Cấm dân làm nhà, nuôi gia súc, trồng cây vào đất của làng. Trong các ngày đại lễ xuân thu nhị kỳ tứ tuần bát tiết trong năm làng dâng xôi, gà, trâu bò, lợn, hoa quả. Kinh phí lấy từ ruộng làng cho ai làm lềnh cấy rẽ, thu theo quy ước trong khám bán”.
Theo những gì Lý trưởng thay mặt Hội đồng chức dịch xã trình quan trên thì lễ hội (vào đám) được tổ chức định kỳ 3 năm một lần hay 5 năm một lần (tùy theo tình trạng được mùa hay mất mùa ở địa phương) và có những cấm kỵ nghiêm khắc đối với vi phạm vào phần đất thờ tự (những điều phạt, bắt vạ ghi trong Hương ước làng). Ngoài ra Tờ trình cũng cho biết nguồn kinh phí tổ chức lễ hội lấy từ khoản thu từ ruộng làng cho người thuê canh tác.
Ngày nay kinh phí tổ chức lễ hội chủ yếu do xã hội hóa, do nhân dân tự nguyện đóng góp và từ sự ủng hộ của các doanh nghiệp, nhà tài trợ và con em quê hương thành đạt là chính.
Lễ hội Cung Chúc đã lưu truyền từ đời này sang đời khác trong các thế hệ người dân địa phương, cho dù có biến đổi ít nhiều theo thời cuộc nhưng bản chất và giá trị của nó không hề thay đổi trong đời sống văn hóa, tinh thần của người dân địa phương. Có thể nói lễ hội đình Cung Chúc là di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của làng Cung Chúc nói riêng và xã Vĩnh Thịnh nói chung.
Lễ hội đình (hay hội làng) Cung Chúc là hoạt động văn hóa dân gian của cộng đồng dân cư địa phương đã kéo dài mấy trăm năm, được hình thành trong quá trình phát triển đời sống tâm linh - tinh thần của người dân nơi đây. Hội làng Cung Chúc cũng như bao lễ hội dân gian khác trên đất nước ta tiêu biểu cho loại hình văn hóa dạng Di sản phi vật thể. Nó thể hiện đầy đủ 5 yếu tố đặc trưng của một lễ hội truyền thống là:
- Tính thiêng: Thể hiện trong nghi lễ tiến hành bao gồm thời gian, không gian, vật phẩm dâng cúng và hành động thiêng liêng để thờ cúng thần linh.
- Tính cộng đồng: Lễ hội là dịp nhân dân tụ hội, gắn kết, củng cố tình đoàn kết xóm làng và thể hiện khí thế, sức mạnh tập thể.
- Tính bền vững theo thời gian và quy chuẩn: Trải qua mấy trăm năm, lễ hội được định hình thành các quy trình khá chặt chẽ, ít thay đổi, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” (biết ơn những vị thánh có công với làng, với nước).
- Tính đa dạng, độc đáo: Hội làng Cung Chúc, ngoài những nét chung của lễ hội vùng đồng bằng Bắc bộ còn có nét riêng độc đáo của cư dân vùng sông nước. Trong đó tục hèm đùa hồ bắt cá có lẽ không có ở bất kỳ lễ hội nào trên địa bàn Thành phố. Nếu liên tưởng nó với việc ¾ vị Thành hoàng Cung Chúc đều là thủy thần (kể cả Quý Minh Đại vương) bởi làng Cung Chúc nằm ở vùng trũng thấp, xưa kia thường lụt lội thì rõ ràng việc bắt cá to dâng Thành hoàng chính là tục hiến sinh thần nước.
- Tính nhân văn (Giáo dục và giải trí): Lễ hội đình Cung Chúc là môi trường sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, giúp người dân giải tỏa những mệt mỏi, lo toan sau một năm lao động vất vả.
Những hoạt động sau đây trong lễ hội làng Cung Chúc đã thể hiện những yếu tố đặc trưng nêu trên của một lễ hội truyền thống, trong đó có phần lễ và phần hội đan xen.
Trước năm 1945 người ta tổ chức lễ hội từ ngày 12 đến 15 tháng 11 ÂL, còn hiện nay lễ hội diễn ra trong 3 ngày chính: 10, 11, 12 tháng 11 âm lịch (không kể ngày lễ mộc dục).
Ngày 9/11: Lễ mộc dục và tế cáo mở cửa đình.
Buổi sáng người ta tiến hành Lễ mộc dục (bao sái, lau rửa bài vị và đồ thờ tự) tại đình và 4 ngôi miếu quanh làn. Thời phong kiến, người được chọn làm việc này phải là người mà gia đình con, cháu đề huề, có đạo đức và đang không có tang trở. Trước khi vào làm việc lau rửa đồ thờ tự người đó phải tray tịnh hàng tuần. Trong quá trình làm việc phải bịt miệng bằng khăn đỏ để tránh phả uế khí vào đồ thờ tự (nay thì người ta chỉ đeo khẩu trang và kiêng kỵ sát sinh, cấm quan hệ nam - nữ trước 3 ngày). Đây gọi là tục hèm thường có trong các lễ hội dân gian.
Buổi chiều ngày này các bậc cao niên trong trang phục cổ truyền, am hiểu nghi thức cử hành nghi lễ cúng, cáo thần xin phép mở lễ hội để tri ân các vị Thành hoàng tại đình và cầu khẩn một ước vọng gì đó.
Ngày 10 tháng 11 ÂL: Khai mạc lễ hội.
Buổi sáng người ta cử hành lễ rước kiệu và bài vị 4 vị Thành Hoàng từ 4 ngôi miếu về đình với 4 đoàn người trong trang phục truyền thống và cờ hội, lọng vàng, long đình, bát biểu, chiêng, trống hòa cùng tiếng nhạc ngũ âm réo rắt điệu “Lưu thủy hành vân”.
Khi 4 đoàn rước tề tựu tại đình, vị chức sắc cao nhất của làng đánh trống khai mạc lễ hội (thường là Chánh tổng hoặc Lý trưởng). Rồi vị cai đám (người chủ trì lễ hội) đọc chúc văn ca tụng công lao các thánh, nói lý do tổ chức lễ hội. Sau đó là hoạt động dâng hương của các chức dịch làng, xã (nay là lãnh đạo địa phương và quan khách). Sau đó là tiết mục hát thờ cửa đình (Ca trù cổ) do các ca nương, kép đàn của làng thực hiện (nay do Giáo phường Ca trù Hải Phòng về biểu diễn với màn giáo hương, giáo trống, hát giai, múa dồn đại thực). Tiếp đó là lễ tế nam quan tại đình theo nghi thức cổ truyền do các cụ ông tiến hành trong trang phục truyền thống với thủ tục dâng hương, dâng rượu, dâng nước lên các vị Thành Hoàng cầu cho quốc thái, dân an, mùa màng bội thu. Trước cách mạng Tháng 8 nghi thức này diễn ra rất cầu kỳ mà người thực hiện là vị chủ tế cùng 2 bồi tế, người Đông xướng, Tây xướng và nhóm tế nam 12 người thực hiện.
Phần hội trong ngày khai mạc lễ hội xưa thường có các hoạt động văn hóa văn nghệ dân gian như: Hát chèo, hát ca trù (vào buổi tối); Thi vật, Tổ tôm điếm, cờ người, đi cầu thùm, đập niêu hay chọi gà, bịt mắt bắt dê (vào ban ngày). Từ năm 1998 trở lại đây phần hội có múa rối nước, đu tiên, cờ tướng, đi cầu thùm, chọi gà, bịt mắt bắt vịt, giao lưu văn nghệ giữa các làng của xã Trung Lập (cũ). Còn từ năm 2010 đến nay, khi đình được trùng tu trở lên rộng rãi, khang trang hơn thì trong ngày khai hội người ta tổ chức múa lân - sư và biểu diễn văn nghệ trên sân khấu ở quảng trường cạnh đình vào buổi sáng. Buổi tối có giao lưu văn nghệ giữa các xóm trong thôn hoặc mời đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp biểu diễn.
Chính hội (ngày 11 tháng 11 ÂL):
Mở đầu là màn cúng, dâng lễ vật lên các thánh (lễ tam sinh) với thủ lợn, gà, rượu, nước thanh thủy, vàng mã xôi, giò, hoa, quả do các bậc cao niên thạo nghi thức thực hiện với sự trợ giúp của các phù lễ. Đây là nghi thức hiến tế đã được tiếp nối từ ngày xưa. Tiếp theo, các dòng họ trong làng dâng hương, dâng lễ quả - thực (xôi, bánh chưng, bánh dầy, gà luộc, lợn quay, hoa, quả, rượu nước) cầu mong Thành Hoàng phù hộ mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, nhân dân no đủ, cuộc sống an lành.
Từ năm 2010 đến nay, trong phần hội người ta tổ chức thi bóng chuyền giữa 3 xóm của thôn Cung Chúc, thi pháo đất (mời đội thi từ các xã cũ lân cận như Việt Tiến, Thị trấn Vĩnh Bảo, Tân Liên, Lý học tham gia và chấm điểm, trao giải). Cũng trong buổi sáng ngày này, dân làng tiến hành hoạt động đùa hồ bắt cá, chọn con to nhất dâng lên Thành Hoàng với niềm tin ai bắt được con to nhất hiến thần thì cả năm người đó sẽ mạnh khỏe, may mắn. Trước năm 1945, làng nuôi cá cả năm trong ao to trước đình rồi sáng tinh mơ ngày chính hội cho dân tự do xuống bắt cá bằng nơm, vó và tay không (cấm dùng lưới vét), tạo lên không khí sôi động, phấn khích. Hiện nay thì người ta vận động nhà tài trợ ủng hộ tiền mua - thả 5-7 tấn cá xuống hồ trước đình (con bé nhất 2,5 kg, co to nhất tới 10-13 kg). Sáng ngày chính hội, hiệu lệnh nổi lên (xưa là trống, nay là loa phóng thanh), dân làng và du khách tự do ào xuống hồ bắt cá trong không khí huyên náo, vui vẻ. Có người bắt được con cá trắm hàng chục cân, hồ hởi đặt vào mâm dâng Thành Hoàng một cách cung kính. Có điều lạ là trước khi dâng Thần thì con cá nào cũng giãy giụa nhưng khi đặt mâm trước ban thờ Thành hoàng thì nó lại nằm im, miệng vẫn ngớp ngớp. Người ta cho đó là sự lạ tâm linh khó lý giải. Các cụ cao niên ở Cung Chúc nói rằng tục đùa hồ bắt cá đã diễn ra mấy trăm năm nay mỗi khi làng mở hội và cá sau khi cúng dâng Thành hoàng thì người bắt được cá đều có thể mang về gia đình hưởng lộc Thánh.
Sau phần dâng lễ hiến sinh (cá sống) lên thần, mọi người ai thụ lộc (ăn uống) tại đình thì tùy, số còn lại về tham gia cúng tổ tiên và liên hoan tại từ đường của các chi dòng họ, qua đó càng củng cố tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết dòng tộc. Thời phong kiến người ta chia lộc cúng Thánh ở đình cho dân theo sổ bạ tịch (hộ tịch nay) theo thứ tự 5 bậc là: Thân, hào, binh, lão, đinh. Trong đó: Thân là người có học vấn (tú tài, cử nhân chưa làm quan), hoặc người có uy thế (nắm giữ các chức sắc làng xã); Hào là tầng lớp giầu có, địa chủ; Binh là Binh lính, hoặc lính hầu, tuần đinh; Lão là bậc trưởng thượng, người cao tuổi trong dòng họ hoặc làng xã, được kính trọng; Cuối cùng là Đinh: Suất đàn ông trong gia đình. Tùy theo thứ tự từ cao xuống thấp nói trên mà các thành phần xã hội được nhận số xôi, thịt, trà, rượu tương ứng một cách phấn khởi bởi người ta quan niệm “Một miếng lộc thánh bằng một gánh lộc trần”.
Lễ tống thần (rã đám) ngày 12 tháng 11 ÂL:
Buổi sáng ngày này người ta tiến hành nghi thức tế tạ ơn các vị Thành hoàng đã phù hộ việc tổ chức lễ hội thành công và tiễn thánh rời đình. Sau đó kiệu và bài vị Tứ thánh được rước về 4 ngôi miếu quanh làng như đám rước hôm khai hội để kết thúc lễ hội. Sau khi hoàn tất việc tiễn thánh, người ta tập trung tại đình để thụ lộc: Các thành viên Ban Tổ chức lễ hội (xưa là lý trưởng, chánh tổng, cai đám, tế đám, thủ hương, tráng đinh khênh kiệu) tiến hành liên hoan, ăn uống tại đình mừng thành công của lễ hội và rút kinh nghiệm, phân công cai đám (người chủ trì tổ chức lễ hội) năm sau.
Phạm Văn Thi -
Chi hội Trưởng Chi hội VNDG
Việt Nam tại Hải Phòng.
Chi hội Trưởng Chi hội VNDG
Việt Nam tại Hải Phòng.