Cuộc khởi nghĩa Hắc Y chống Minh đô hộ do tướng Dạ Xoa Văn Dĩ Thành lãnh đạo

Thứ tư - 17/07/2024 04:11
Sau khi 2 tướng tài Trương Phụ và Mộc Thạnh nhà Minh được một số tên Việt gian Trần Thiêm Bình cùng Mạc Địch, Mạc Thủy, Mạc Viễn và Nguyễn Huân mạo nhận là họ Mạc đều là bất đắc chí, vì quyền lợi cá nhân đầu hàng quân Minh, đưa đường dẫn lối cho giặc để mong hưởng chút cơm thừa, canh mặn làm ô danh cho gia đình, dòng họ.
Cuộc khởi nghĩa hắc y chống Minh đô hộ do tướng Dạ Xoa Văn Dĩ Thành lãnh đạo
Cuộc khởi nghĩa hắc y chống Minh đô hộ do tướng Dạ Xoa Văn Dĩ Thành lãnh đạo

Sau khi 2 tướng tài Trương Phụ và Mộc Thạnh nhà Minh được một số tên Việt gian Trần Thiêm Bình cùng Mạc Địch, Mạc Thủy, Mạc Viễn và Nguyễn Huân mạo nhận là họ Mạc đều là bất đắc chí, vì quyền lợi cá nhân đầu hàng quân Minh, đưa đường dẫn lối cho giặc để mong hưởng chút cơm thừa, canh mặn làm ô danh cho gia đình, dòng họ. Bài học đắt giá này chắc phải làm cho những người bất kỳ vì lý do, nguyên cớ gì mà nhẫn tâm nối giáo tiếp tau cho giặc ngoài chống lại dân ta, nước ta. Nguyên nhân sâu xa, căn bản nhất khiến nhà Hoog (1400 - 1407) do cha con Hồ Quý Ly, Hồ Hán Thương không phát huy được truyền thống yêu nước, kiên cường, bất khuất với nền văn hiến rực rỡ của tổ tiên Đại Việt, như chính danh nhân anh hùng dân tộc Thái học sinh triều Hồ Nguyễn Trãi đã chỉ rõ trong Bình Ngô đại cáo: “Vừa rồi: Vì họ Hồ chính sự phiền hà, để trong nước lòng dân oán hận. Quân cường Minh tứ ngược, bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ. Chước dối đã muôn nghìn khóe, ác chứa ngót hai mươi năm. Bại nhân nghĩa, nát cả càn khôn, nặng thuế khóa vét không sơn trạch…”

Chính sách phiền hà làm khổ dân, lúc gian nan nguy hiểm được dân che chở, hưởng úng chống giặc, đến lúc kháng chiến thành công lại vong ân bội nghĩa, tranh chức, giành quyền, lôi bè, kéo cánh để tham ô, lãng phí, vơ vét của dân nhằm vinh thân, phì gia… cũng là bài học quý cho lãnh đạo, cán bộ chúng ta ngày nay.

Ôn lại bài học nhà Minh đô hộ nước ta (1414 - 1427) cũng giúp ta hiểu rõ tư tưởng bành trướng, bá quyền của các đế chế Trung Hoa; trước là thế, nay không khác, chỉ là tùy thời thế, cơ hội mà đổi giọng để dễ lừa người.

Chính sử ta cũng như Trung Quốc đềi ghi rõ: Chu Nguyên Chương vốn là dân thường nhưng có ý chí lớn, nhiều mưu lược đã lần lượt đánh bại hậu duệ nhà Nguyên, đánh bại được Trần Hữu Lượng, con trai Chiêu Minh đại vương Trần Ích Tắc, một thân vương tài trí của vua Trần Nhân Tông và Trương Sĩ Thành. Sau khi đã đặt được ách đô hộ nước Đại Việt, nhà Minh lộ rõ bộ mặt thực, bỏ danh nghĩa Phù Trần diệt Hồ, yết bảng khắp nơi tìm con cháu vua Trần, rồi bố cáo không còn ai để bắt ép quan lại, bô lão nước ta làm tờ khai rằng: Họ Trần không còn ai nữa và đất An Nam vốn là đất Giao Châu ngày trước, nay xin đặt quận, huyện như cũ. Chúng chia nước ta thành

17 phủ và 5 châu. Địa bàn Hải Phòng và tỉnh Quảng Yên ngày nay thuộc phủ Tân An và Định Hải. Bộ máy chính quyền có 472 nha môn trực thuộc ba Ty: Bố chính, Án sát, Chưởng đô giao cho Thượng thư Hoàng Phúc cai quản 2 Ty Bố chính, Án sát, Lữ Nghị quản Ty Chưởng đô có Hoàng Trung làm phó.

Nắm quyền cai trị được một tháng, tháng 9 năm 1414, Hoàng Phúc bắt các phủ huyện châu phải dựng văn miếu, lập đàn thờ Xã tắc, Phong vân, Sơn xuyên và các thần theo phong tục Trung Quốc. Tháng 10 năm này, hắn mở trường dạy tiếng Trung Quốc, mua chuộc ve vãn sĩ phu, thầy thuốc sư sãi phục vụ cho nền đô hộ. Ngoài việc đào tạo mua chuộc trên, Hoàng Phúc còn âm mưu xóa bỏ nền văn hóa Đại Việt nên đã ráo riết tịch thu hết các thư tịch, bản đồ, địa chí, lịch sử nước ta đem về Tầu. Lê Quý Đôn trong thiên Nghệ văn chí sách Đại Việt thông sử cho biết: “ Về thời triều Trần toàn thịnh, văn học rực rỡ, luật lệ giấy tờ thật đầy đủ… đến đời Nhuận Hồi mất nước, tướng Minh Trương Phụ lấy hết sách vở cổ kim của ta gửi theo đường sông về Kim Lăng, kinh đô triều Minh. Các công trình kiến trúc lớn như 2 cung Lệ Thiên, Trùng Hoa xây dựng từ thời Thịnh Trần, tầng trên tháp Báo Thiên ở Thăng Long đều bị đô hộ Minh phá hủy.

Sau khi dẹp tan quân Mông Cổ, bình định Đại Việt, Minh Thành Tổ sai sứ ra nước ngoài, đem theo nhiều vàng bạc đá quý, đặc sản Trung Quốc để khoe khoang, dụ dỗ, mua chuộc. Thái giám Trịnh Hòa được giao cho 62 thuyền lớn với 37.000 hải quân từ cửa biển Lưu Gia ở Tô Châu, năm 1405, vượt biển qua Phúc Kiến đến Chiêm Thành, rồi qua các nước đến Tây Dương, đến đâu cũng tuyên truyền oai đức của vua Tầu, nước nào không phục thì dùng binh mà uy hiếp, đến khi Trịnh Hòa trở về nước thì các nước thì các nước đều đến triều cống vua Minh. Trịnh Hòa trước sau đi ra nước ngoài 7 lần, bắt được vua 3 nước, trải qua 40 nước: 15 nước ở phía đông bán đảo Mã Lai (Malaisia), 7 nước Tô Môn Đáp Lạp Á (Sumatra), 6 nước ở Ấn Độ (Inde), 5 nước A Lạp Á (Ara-bie), 3 nước Châu Phi. Từ đó, người Trung Quốc và các nước trên qua lại buôn bán không ngớt. Thị trường trọng yếu của nhà Minh chủ yếu ở miền duyên hải Hoa Nam như: Quảng Châu, Áo Môn, Chương Châu và Nguyệt Cảng thuộc tỉnh Phúc Kiến, Ninh Ba và Định Hải thuộc tỉnh Chiết Giang.

Đế quốc Minh đã hùng mạnh, tài giỏi bán buôn lại nặng óc bành trướng thì sao chịu để thuộc quốc An Nam nhỏ bé cản đường Nam tiến của chúng.

Theo sách Tu tri lục của người Minh soạn năm 1415 thì nước Nam ta chỉ có 162.558 hộ với 450.288 nhân khẩu; ruộng có 17.442 khoảnh, 34 mẫu. Trước khi cử binh đánh Đại Việt, Minh Thành Tổ đã có nhiều mưu mẹo thăm dò như: Năm Giáp Tý (1384) đời vua Trần Đế Hiện (1377 - 1388) phải cấp cho quân Minh đóng ở Vân

Nam 5.000 thạch thóc, năm Ất Sửu (1358) buộc vua ta phải tuyển 20 nhà sư đưa sang Kim Lăng để chúng nhồi sọ, năm Bính Dần (1386) đòi nộp cây giống quý, đòi mượn đường đi đánh Chiêm Thành và 50 thớt voi chiến ( Cương mục 211 tờ 1a - 3a). Nhà Minh còn lợi dụng thần quyền để mê hoặc dân ta, bắt nhà nho, nhà sư phải quảng bá các sách: Tính lý đại toàn, Vi thiện âm chất, Hiếu thuận sự thực…

Công việc này do Ty Tăng đạo đặt ở xã Cổ Trai (nay là thôn thuộc xã Ngũ Đoan huyện Kiến Thụy, Hải Phòng). Huyện này là thôn Đoài (nay là thôn Phúc Xá xã Đoàn Xá huyện Kiến Thụy) còn dấu vết di tích chùa Đại Minh với ngọn tháp cao to xây bằng gạch chì. Khuôn viên chùa khá rộng, hiện nằm trong khuôn viên đồn Công an Biên phòng, điểm cuối tả ngạn sông Văn Úc. Rất tiếc, trong phong trào Hợp tác hóa nông nghiệp, đã phá bỏ cả tháp và chùa Đại Minh. Giếng cổ chùa Đại Minh rất nhiều nước ngọt mà các tầu buôn nước ngoài Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp… đến trú đậu ở đảo Ngọc (Hòn Dấu - Đồ Sơn) đã đôi lần đến mua nước ngọt ở giếng chùa này. Tại Hội thảo khoa học về cảng Domeo (Đò Mè) ở đầu huyện Tiên Lãng do trường Đại học Khoa học Xã Hội & Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức năm 1987, các nhà khoa học nhiều ngành đã thống nhất cửa sông Thái Bình và cửa sông Văn Úc là đường thủy thuyền buôn nước ngoài lên Phố Hiến cùng Thăng Long.

Nhân dân Đại Việt vốn có truyền thống yêu nước bất khuất, có nền văn hóa rực rỡ quyết không cam tâm làm nô lệ nên khi nhà Hậu Trần (1407 - 1413) do hoàng tử Trần Quỹ, con thứ Trần Nghệ Tông khởi xướng. Khi giặc Minh đã chiếm được Thăng Long và nhiều nơi, Ngài đem quân rút về Mô Độ huyện Yên Mô nay thuộc tỉnh Ninh Bình lập đại bản doanh. Ngài lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu Hưng Khánh (1407 - 1409). Dân khắp nơi nô nức hưởng ứng như:

- Phong trào nghĩa quân Áo Đỏ ở Thái Nguyên năm 1410 lan rộng khắp vùng Việt Bắc - Tây Bắc.

- Phong trào La Bình vương ở Đồ Sơn do nhà sư Phạm Ngọc tổ chức lãnh đạo.

- Căn cứ Nghi Dương nay thuộc 2 xã Ngũ Phúc - Du Lễ huyện Kiến Thụy do Nguyễn Sư Cối, Đỗ Nguyên Thố, Phạm Chí, Trần Nguyên Khanh chỉ huy. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân bao gồm phần lớn miền ven biển miền Bắc.

- Căn cứ Vụ Nông huyện Giáp Sơn nay là thôn thuộc xã Đại Bản, huyện An Dương, Hải Phòng do 5 anh em Phạm Luận được Bình Định vương Lê Lợi giao nhiệm vụ. Hai đại đồn ở Vụ Nông huyện An Dương và Yên Lưu ở phủ Kinh Môn Hải Dương nay đều còn dấu tích.

- Căn cứ Tràng Kênh nay thuộc thị trấn Minh Đức huyện Thủy Nguyên do Lê Ngã tổ chức lãnh đạo. Nghĩa quân hoạt động từ Thủy Nguyên đến Lạng Giang - Bắc Giang gây cho địch nhiều tổn thất.

Trên đây chỉ là 1 số phong trào yêu nước thời Hậu Trần, nhưng còn một cuộc khởi nghĩa lớn Hắc Y do tướng Dạ Xoa Văn Dĩ Thành lãnh đạo thì chính sử không ghi nay cần làm rõ sự kiện quan trọng này, góp phần bổ sung cho chính sử, góp phần làm rõ vọng tộc Hoa - Văn nước ta có đến 20 thế kỷ, có nhiều cống hiến to lớn cho sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc.

Theo lý lịch di tích miếu Voi Phục và lăng Văn Sơn thuộc tổng Vân Hội (tên nôm là Gối) phủ Hoài Đức tỉnh Hà Tây nay thuộc huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Tộc phả, thần tích thần sắc cho biết: Văn Dĩ Thành là hậu duệ của tướng thủy quân Hoa Duy Thành quê ở xã Bảo Hà nay thuộc xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng. Khi nhà Hồ thoán ngôi nhà Trần, Văn Đại Thanh hậu duệ đời thứ 7 Hoa Duy Thành sợ bị trả thù, đã ẩn cư ở vùng Ninh Giang Hải Dương rồi lại chuyển sang huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình, sau theo người họ Phạm về ngụ cư ở Thượng Hội, một thực ấp của Điện súy Phạm Ngũ Lão. Sau 3 năm ở quê mới Văn Đại Thanh được cụ Phạm Đại Công mến tài đức, ý chí đã gả cháu gái là Phạm Thị Duyên cho. Cụ lại cho 2 vợ chồng 6 sào đất tốt ở gò Rùa và 1 giếng nước ngọt nay vẫn còn dấu tích. Ông bà Văn Dĩ Thành ở quán Ma. Văn Đại Thanh giỏi nghề thợ mộc nên năm 1935 phải vào Thanh Hóa xây dựng thành An Tôn (tức thành nhà Hồ). Sau sợ lộ tông tích, ông giấu gia đình trốn vào Nghệ An nay vẫn chưa tìm ra nơi ở.

Văn Dĩ Thành bẩm tính thông minh, hiếu học, được họ ngoại hết sức giúp đỡ cho học văn, học võ, học nghề thuốc. Cùng học có Lê Ngộ, người làng Phan Lang cùng tổng. Gặp năm dịch tễ lớn, Văn Dĩ Thành hết sức chạy chữa cho dân địa phương, riêng gia đình Lê Ngộ có 5 người ốm nặng, ông đã cứu sống cả. Cảm kích tấm lòng bạn tốt, Lê Ngộ nhận Văn Dĩ Thành là anh kết nghĩa, sau trở thành Phó tướng tin cẩn của ông.

Được tin Giản Định đế kêu gọi chống giặc Minh, Văn Dĩ Thành tổ chức lực lượng tổng Gối và các vùng lân cận. Dân nô nức hưởng ứng, ông lấy tổng Gối làm căn cứ chính.

Những dấu tích của nghĩa quân Hắc Y nay vẫn còn:

- Thương Hội có các ngõ: Giặc, Lý, Sâu, Chùa…

- Thúy Hội có các ngõ: Đình, Me, Ngoặt, Bảng ứng

- Vĩnh Kỳ có các ngõ: Táng, Ba Tra, Me, Trại, Đóng…

- Phan Long có các ngõ: Chùa, Bàng, Lai

Theo lời các cụ kể lại: ngõ Bảng ứng là nơi yết bảng mộ quân, ngõ Giặc là nơi giam giữ tù binh. Tướng Dạ Xoa không giết, lại chạy chữa khỏi bệnh rồi tha về.

Tư liệu địa chí của tổng Gối còn khá phong phú như Chèo Tầu Tân Hội có nhiều đoạn nhắc đến cuộc khởi nghĩa Hắc Y; sách Cối Sơn tiểu dẫn do Nguyễn Tư soạn khắc ván năm Nhâm Dần Thành Thái (1902) cung cấp nhiều tài liệu quý về Văn Dĩ Thành. Đặc biệt, sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có bài về tướng Dạ Xoa.

Tộc phả họ Lê cho biết, sau khi chủ tướng hy sinh, Lê Ngô lập ban thờ tại gia đình, khi dẹp xong giặc Minh, làm sớ tâu lên triều đình, vua Lê Thái Tổ ban sắc tặng Thượng đẳng phúc thần, lại ban ruộng thờ, giao cho xã Thượng Hội cày cấy lấy hoa lợi cúng tế. Nay xã còn giữ được nhiều sắc phong, trong đó có 40 bản đời Vĩnh Tộ (1620, 1622, 1624, 1626); đời Đức Long (1629, 1632, 1632, 1632, 1633)

- Dương Hòa (1633, 1634, 1635, 1637, 1639, 1642)

- Phúc Thái (1647, 1649) - Khánh Đức (1652)

- Thịnh Đức (1656, 1657) - Dương Đức (1674)

- Chính Hòa (1683) - Vĩnh Thịnh (1710)

- Vĩnh Khánh (1730) - Cảnh Hưng (1740, 1743, 1767, 1783)

- Quang Trung (1767, 1792) - Bảo Hưng (1802)

- Minh Mệnh (1821) - Thiệu Trị (1844)

- Tự Đức (1850) - Đồng Khánh (1857)

- Duy Tân (1909) - Khải Định (1924)

( Còn 3 đạo sắc niên hiệu rách không đọc được)

N.Đ.L

1. Chú dẫn: Trần Nghệ Tông

Trần Nghệ Tông (1321 - 6/1/1395) tên húy là Trần Phú, con Trần Minh Tông là vua thứ 7 triều trần. Dưới thời Trần Dụ Tông (1341 - 1369) ông được phong tước Cung Định Vương, chức Hữu Tướng quốc. Ông cùng 2 em là Cung Tuyên vương Kính và công chúa Ngọc Tha lật đổ Dương Nhật Lễ năm 1340 khôi phục nhà Trần, kế thừa nền chính trị văn hóa Đông A rực rỡ, phê phán bọn bạch diện thư sinh (học trò mặt trắng) không hiểu sâu luật pháp, mù quáng sùng phục phong kiến Trung Hoa. Ông không ham quyền vị, cuối đời già lẫn, bị họ ngoại Hồ Quý Ly thao túng, khi hối hận thì đã quá muộn. Trần Phú ham thơ từ nhỏ, từng soạn: Hoàng huấn (giáo huấn cho hoàng tộc), Bảo Hòa điện dư bút (Viết lúc rảnh rỗi ở điện Bảo Hòa) được danh sĩ

đương thời ca ngợi, rất tiếc khi giặc Minh xâm lược, các tác phẩm trên đã bị mất mát gần hết, chỉ còn một số bài được người sau sưu tầm trong sách Việt âm thi tập.

2. Chú dẫn: Hồ Nguyên Trừng

Hồ Nguyên Trừng, con trưởng Hồ Quý Ly, cháu ngoại Trần Nghệ Tông, quê ở hương Đại Lải huyện Vĩnh Phúc nay thuộc tỉnh Thanh Hóa. Năm 1393, được kế chân cha làm chức Phán Lân tự. Năm sau, cha đoạt ngôi nhà Trần, tuy là con trưởng lại tài đức gồm đủ, yêu dân yêu nước, giúp vua cha thiết kế thi công một số công trình thủy lợi đê điều phục vụ giao thông thủy lợi quân sự và công trình nhà Hồ đến nay các nhà kiến trúc trên thế giới kính nể. Khi bị bắt về Tầu, ông đã sáng chế súng Thần cơ hơn hẳn các loại súng đương thời. Ông am tường về lịch sử đồng thời là nhân chứng lịch sử nên thấy rõ chỉ vì ngôi vua mà ông cháu cha con anh em sẵn sàng nhẫn tâm tàn sát nhau cùng phe phái không ghê tay. Họ quên cả kinh sử đã học về dân là gốc của nước, đẩy thuyền, lật thuyền đều do dân. Câu trả lời vua cha: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân theo hay không theo mà thôi”. Câu nói bất hủ ấy chắc chắn còn giá trị lâu dài. Năm 1438, ông viết sách Nam Ông mộng lục (ghi lại những giấc mộng của ông già nước Nam) gồm 34 chuyện toàn ca ngợi anh hùng, nghĩa sĩ, liệt sĩ, danh nhân nước ta, trong đó có hành trang ngoại tổ Trần Nghệ Tông mà ông kính yêu mến mộ. Hồ Nguyên Trừng là nhà chính trị, nhà văn, nhà sáng chế lỗi lạc nước Nam cần vinh danh.

II. Tài liệu tham khảo chính:

1. Đào Duy Anh: Đất nước Việt Nam qua các đời

NXB Khoa học xã hội - Hà Nội, 1957

2. BỒ TÙNG LINH: LIÊU TRAI CHÍ DỊ HOA HẠ xuất bản xã 2009

3. Đỗ Đức Hiếu, Nguyễn Huệ Chi, Phùng Văn Từ, Nguyễn Hữu Tá (Chủ biên): Từ điển Văn Học. Bộ mới, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2001

4. Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử ký toàn thư. Tập IV

5. Ngô Đăng Lợi (Chủ biên): Từ Điển Bách Khoa Địa danh Hải Phòng, NXB Hải Phòng, 1998.

6. Ngô Đăng Lợi - Trịnh Minh Hiên: Nhân vật lịch sử Hải Phòng. Tập I NXB Hải Phòng 1988

7. Phan Khoang: Trung Quốc Sử lược. NXB Văn hóa Thông tin, 2002.

8. Quốc sử quán triều Nguyễn: Đại Nam Nhất Thống Chí Tập 44 NXB THUẬN HÓA - HUẾ, 1992.

9. Quỳnh Cư - Đỗ Đức Hùng: Các triều đại Việt Nam. NXB Thanh Niên - Hà Nội, 2005.

10. Thư Mục: Thần tích - Thần Sắc.

Các tỉnh Kiến An, Hải Dương, Thái Bình, Sơn Tây.

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây