MỘT SỐ NÉT ĐIỂN HÌNH VỀ TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH QUA THƠ CHỮ HÁN CỦA NGƯỜI

Thứ tư - 20/05/2026 05:05
Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua thơ chữ Hán của Người là sự hòa quyện giữa chí khí cách mạng kiên cường, tình yêu thiên nhiên sâu sắc, lòng nhân ái bao la và tinh thần lạc quan, ung dung tự tại của một chiến sĩ – một thi sĩ cách mạng.
 
                                                                     Xuân Bách
                                                             CLB Hải Phòng học

Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua thơ chữ Hán của Người là sự hòa quyện giữa chí khí cách mạng kiên cường, tình yêu thiên nhiên sâu sắc, lòng nhân ái bao la và tinh thần lạc quan, ung dung tự tại của một chiến sĩ – một thi sĩ cách mạng.
 


Thơ chữ Hán của Bác, đặc biệt là tập "Nhật ký trong tù" (Ngục trung nhật ký), cùng với những bài thơ chữ Hán khác của Bác là minh chứng rõ nét nhất cho tư tưởng của Người. Nhân dịp kỷ niệm 136 năm ngày sinh của Bác, chúng ta cùng tìm hiểu tư tưởng của Người qua một số bài thơ chữ Hán.

Trong hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt, Bác Hồ vẫn giữ vững ý chí sắt đá và niềm tin tất thắng vào sự nghiệp cách mạng. Thay vì bi quan, Người xem những khó khăn, thử thách như một môi trường để "rèn thép" cho ý chí của mình. Tư tưởng ấy đươc thông qua bài thơ “ Đi Đường” ( Tấu Lộ ) được viết theo thể tứ tuyệt Đường luật, gồm 4 câu, mỗi câu 7 chữ. Nguyên văn chữ Hán:
 
 
      難,
      山。
      後,
  輿    間。

 
Phiên âm Hán - Việt
 
Tấu Lộ
Tẩu lộ tài tri tẩu lộ nan,
Trùng sơn chi ngoại hựu trùng sơn.
Trùng sơn đăng đáo cao phong hậu,
Vạn lý dư đồ cố phán gian.

Dịch nghĩa tiếng Việt (bản dịch phổ biến của Nam Trân hay Xuân Diệu - ghi trong sách giáo khoa):
 
Đi Đường
Đi đường mới biết gian lao,
Núi cao rồi lại núi cao chập chùng.
Núi cao lên đến tận cùng,
Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non.
 
Bài thơ được Bác sáng tác trong thời gian Người bị giải đi gần hết các nhà lao của Tưởng Giới Thạch từ Quảng Tây lên Tứ Xuyên (khoảng năm 1942 - 1943), bài thơ miêu tả sự vất vả của việc đi bộ qua những dãy núi trùng điệp. Chính vì vậy bài thơ "Đi đường" không chỉ là một bài thơ tả cảnh núi non hùng vĩ mà còn là bài học về ý chí vượt khó, về tầm nhìn xa và niềm tin tất thắng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó tiêu biểu cho phong cách thơ Người: giản dị, hàm súc, giàu chất suy tưởng và lạc quan cách mạng, chí khí kiên trung và tinh thần quyết tâm vượt ngục đi tìm đường cứu nước

Cũng như bài thơ Vọng nguyệt (望月) của Bác.

望月
獄中無酒亦無花,
對此良宵奈若何。
人向窗前看明月,
月從窗隙看詩家。

Phiên âm Hán - Việt:

Vọng Nguyệt
Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,
Đối thử lương tiêu nại nhược hà?
Nhân hướng song tiền khan minh nguyệt,
Nguyệt tòng song khích khan thi gia.

Dịch nghĩa:
Ngắm Trăng
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Trước cảnh đẹp đêm nay biết làm thế nào?
Người hướng ra trước cửa sổ ngắm trăng sáng,
Trăng từ khe cửa nhìn người làm thơ.

Bản dịch thơ phổ biến (của Nam Trân):
Ngắm Trăng
Trong tù không rượu cũng không hoa,
Cảnh đẹp đêm nay khó hững hờ;
Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ,
Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ.

Bài thơ "Ngắm trăng" được Bác Hồ viết trong tập Nhật ký trong tù (1942-1943), khi Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Đây là một trong những bài thơ hay nhất và tiêu biểu nhất cho phong cách thơ Hồ Chí Minh. Với Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt: Ngắn gọn, hàm súc, giàu nhạc điệu, nghệ thuật đối và nhân cách hóa tài tình. Trăng được xem như một người bạn có tâm hồn, có ánh mắt, chủ động tìm đến giao hòa cùng thi nhân. Dù trong hoàn cảnh khắc nghiệt, trước vẻ đẹp của đêm trăng, tâm hồn nghệ sĩ của Bác vẫn rung động, "khó hững hờ". Đây chính là tình yêu thiên nhiên mãnh liệt, đến say mê của Người. Trong điều kiện dưới song sắt nhà tù nó không thể ngăn cách tâm hồn Bác với thiên nhiên, với vầng trăng tri kỷ. Người vẫn say mê ngắm nhìn vẻ đẹp của trăng: "Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ" và Trăng cũng như thấu hiểu, cảm thông, chủ động "nhòm" vào để ngắm nhìn và trò chuyện cùng thi nhân: "Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ".
     
"Vọng nguyệt" (Ngắm trăng) không chỉ là một bài thơ tả cảnh đẹp đêm trăng. Đó còn là bức chân dung tự họa về tâm hồn và nhân cách Hồ Chí Minh. Giữa cảnh tù đày, thiếu thốn về vật chất, Bác vẫn giữ được một tình yêu thiên nhiên tha thiết, một phong thái ung dung, tự tại và một sức mạnh tinh thần to lớn, vượt lên trên mọi hoàn cảnh nghiệt ngã.


Tư tưởng: Thiếu thốn vật chất rượu, hoa không thể ngăn cản sự rung động trước cái đẹp. Đặc biệt, hình ảnh "Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ" thể hiện sự vượt thoát tinh thần, không gian chật hẹp của nhà tù bị xóa nhòa bởi sự giao hòa vũ trụ giữa "người" và "trăng".
Qua 2 bài thơ đó, chúng ta thấy chí khí kiên trung và tinh thần vượt ngục đi tìm đường cứu nước của Vị Cha già dân tộc.

Một trong những điểm đặc biệt trong thơ chữ Hán của Bác là dù bị tù đày, Người vẫn dành sự cảm thông sâu sắc cho những số phận bất hạnh, những người dân lao khổ. Người "đồng cảm" với nỗi đau của họ như chính nỗi đau của mình. Tư tưởng đó đươc thông qua bài thơ “ Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng” ( "Dạ bán văn khốc phu".
Nguyên tác chữ Hán
夜半聞哭夫
嗚呼夫君兮夫君,
何故夫君遽棄塵。
使妾從今何處見,
十分心合意投人。


 Phiên âm Hán- Việt
Dạ bán văn khốc phu
Ô hô phu quân hề phu quân!
Hà cố phu quân cự khí trần?
Sử thiếp tòng kim hà xứ kiến,
Thập phần tâm hợp ý đầu nhân.


Dịch nghĩa                   
Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng

Than ôi! Chàng hỡi chàng ơi!
Cớ sao chàng vội lìa bỏ cõi đời?
Để thiếp từ nay biết tìm đâu thấy,
Một người bạn đời mười phần tâm đầu ý hợp!


Bản dịch thơ phổ biến: của Nguyễn Sĩ Lâm (được nhiều người biết đến):
Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng
Hỡi ôi, chàng hỡi, hỡi chàng ơi!
Cơ sự vì sao vội lánh đời?
Để thiếp từ nay đâu thấy được,
Con người tâm ý hợp mười mươi.


Bài thơ ra đời khi Chủ tich Hồ Chí Minh đang bị giam trong nhà tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch ở Quảng Tây (Trung Quốc). Trong hoàn cảnh tù đày khắc nghiệt, vào lúc nửa đêm Bác đã vô tình nghe thấy tiếng khóc thảm thiết của một phụ nữ vì chồng mất đột ngột.
Bài thơ là tiếng nói của người vợ trẻ với những câu hỏi đầy đau đớn và bàng hoàng "Cớ sao chàng vội lìa bỏ cõi đời ?". Đó là sự tiếc nuối khôn nguôi về một cuộc tình " tâm ý hợp mười mươi " bị cắt đứt giữa chừng .

Việc Bác ghi lại khoảnh khắc này cho thấy trái tim nhạy cảm và sự đồng cảm sâu sắc của Người. Dù bản thân là tù nhân, đang chịu nhiều cực hình, Người vẫn rung động trước nỗi đau của người khác. Đây là một minh chứng rõ nét cho chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo cao cả xuyên suốt trong thơ văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Điều này phản ánh trực tiếp lý tưởng "cứu dân, cứu nước" - động lực chính cho toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người.
Qua bài thơ, chúng ta thấy được Chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo sâu sắc (Lòng thương dân) của Bác cao cả biết chừng nào.

Sau khi giành được chính quyền và trong thời kỳ kháng chiến, thơ chữ Hán của Bác (cùng với thơ chữ Quốc ngữ) thể hiện lối sống giản dị mà thanh cao.
Bài thơ " "Tức cảnh Pác Bó" (題帕刻北即景) bằng chữ Hán thể hiện tư tưởng cao cả đó của Bác.

Nguyên tác chữ Hán
題帕刻北即景
步頭沿谷底,
晚宿半山崖。
玉米與竹筍,
隨時便飯茶。
石盤供譯籍,
開卷即為家。
革命生涯樂,
何須富貴奢。

Phiên âm Hán - Việt
Tức cảnh Pác Bó
Bộ đầu duyên cốc để,
Vãn túc bán sơn nhai.
Ngọc mễ dữ trúc duẩn,
Tùy thời tiện phạn trà.
Thạch bàn cung dịch tịch,
Khai quyển tức vi gia.
Cách mạng sinh nhai lạc,
Hà tu phú quý xa.

Dịch nghĩa
Tức cảnh Pác Bó

Bước đi men theo đáy suối,
Tối ngủ trên sườn núi.
Ngô và măng tre,
Theo thời có cơm nước tiện lợi.
Bàn đá dùng để dịch sách,
Mở sách ra là có nhà.
Cuộc sống cách mạng thật vui,
Cần gì giàu sang phú quý.

Bài thơ là một bức chân dung tinh thần tự họa của chính Người trong những ngày tháng hoạt động cách mạng ở Pác Bó (1941). Qua đó, ta thấy được những tư tưởng lớn.

Hai câu đầu "Bước đi men theo đáy suối, tối ngủ trên sườn núi" cho thấy điều kiện sống và làm việc vô cùng gian khổ, thiếu thốn. Thế nhưng, giọng thơ của Bác không hề tỏ ra than vãn hay bi quan. Điều này thể hiện bản lĩnh của một người chiến sĩ cộng sản kiên trung, sẵn sàng chấp nhận và vượt qua mọi khó khăn để đạt được lý tưởng. Bài thơ thể hiện tinh thần vượt khó và ý chí kiên cường.
Bác sống rất hòa hợp với núi rừng: suối, sườn non, ngô, măng tre, bàn đá. Không gian thiên nhiên trở thành ngôi nhà, thành nơi làm việc lý tưởng. Câu thơ "Mở sách ra là có nhà" là một phát hiện rất độc đáo. Với Bác, lý tưởng và sự nghiệp cách mạng chính là ngôi nhà tinh thần lớn nhất, che chở và nuôi dưỡng tâm hồn Người, giúp Người vượt lên trên những thiếu thốn về vật chất. Điều đó nói nên phong thái ung dung, lạc quan và tình yêu thiên nhiên cao cả của Bác..

Câu kết "Cách mạng sinh nhai lạc, hà tu phú quý xa" (Cuộc sống cách mạng thật vui, cần gì giàu sang phú quý) chính là sự kết tinh của toàn bộ tư tưởng trên. Đối với Bác: "Lạc" (vui) là niềm vui lớn lao khi được cống hiến, được sống với lý tưởng giải phóng dân tộc. Điều đó nói nên quan niệm sống giản dị mà cao quý của Người.
"Sang" (cao quý) không phải là giàu sang về vật chất, mà là sự giàu có về tinh thần, sự thanh cao của chí khí, sự tự do và ý nghĩa của cuộc đời.
Như vậy, bài thơ không chỉ đơn thuần là bức tranh về cuộc sống thiếu thốn, mà là một tuyên ngôn về lẽ sống đẹp đẽ của người chiến sĩ cộng sản: lấy lý tưởng làm niềm vui, lấy sự cống hiến làm lẽ sống, và lấy sự thanh cao của tâm hồn làm thước đo cho giá trị cuộc đời.
Thông qua một số bài thơ chữ Hán nêu trên của Bác đã làm rõ thêm tư tưởng Hồ Chí Minh có thể khái quát trong một câu nói nổi tiếng của chính Người: "Vì nước, vì dân, vì sự nghiệp lớn, tôi sẵn sàng chịu đựng mọi gian khổ."
Thơ của Bác không phải là thơ của một ẩn sĩ thoát ly thực tế, mà là thơ của một chiến sĩ cộng sản mang tâm hồn thi sĩ cách mạng. Cốt cách ấy đã tạo nên một giá trị nhân văn sâu sắc, biến những bài thơ viết trong ngục tối thành những bản hùng ca về khát vọng tự do và lòng yêu đời./.
 

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây