ĐẠI CƯƠNG
PHÉP THI NHO HỌC
Dẫn đề: khi đọc bài Khoa cử Việt Nam thời phong kiến và danh hiệu Trạng nguyên (đăng ngày 24/4/2026) trên hảiphonghoc.vn, nhiều nội dung chưa rõ, xin bạn đọc tham khảo Đại cương Phép thi Nho học.
Nội dung Đại cương phép thi các đời được lược chép theo “Lịch triều hiến chương loại chí”, của Nhà sử học Phan Huy Chú.

1. Thời Lý
Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh kinh đầu tiên. Người đỗ đầu là Lê Văn Thịnh. Năm 1076, Lý Nhân Tông, năm Thái Ninh thứ 4, tháng 2, hạ chiếu chọn những người giỏi kinh, học rộng và thi Nho học ba trường. Phép thi chưa có cách thức nhất định hoặc thỉnh thoảng có chiếu của vua cử học trò trong nước vào thi. Nhà vua tự xem thi ở Điện đình.
2. Thời Trần
Phép thi cử bắt đầu được chia ra giáp và đệ (thi Thái học sinh, cho đỗ tam giáp theo các bậc khác nhau), lúc đầu chưa định niên hạn, phép thi chưa rõ ràng, về sau mới định hạn 7 năm một khoa, đặt ra tam khôi. Điều lệ mỗi ngày một nghiêm, ân điển mỗi ngày một long trọng. Công danh do đó mà ra, nhân tài đầy rẫy, so với nhà Lý trước thịnh hơn nhiều. Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Phép khoa cử đời Trần đến đây (cuối thế kỷ XIV) mới đủ văn tự bốn trường.
3. Thời Hồ
Hồ Hán Thương, năm Khai Đại thứ 2 (1404), định cách thức thi cử nhân. Ai đỗ thi Hương thì được miễn lao dịch, năm sau thi ở Lễ bộ, ai đỗ thì bổ dụng, sang năm nữa thì thi Hội, ai đỗ thì sung Thái học sinh. Cứ 3 năm một khoa thi. Phép thi theo nhà Nguyên, thi ba trường, lại có một kỳ thi văn sách là trường tư (tứ trường), một kỳ thi viết và tính là trường năm (ngũ trường).
4. Thời Lê Sơ
Khi nước ta thuộc nhà Minh, quan tam ty (Bố Chính ty, Án Sát ty, Đô ty) dẫu có mở khoa thi, nhưng kẻ sĩ đều trốn tránh cả không ra thi, phép thi cử phải bỏ. Nhà Lê mới phục quốc, nhiều người chưa vui lòng ra làm quan, cho nên cách thi lúc đầu hãy còn giản dị.
Năm Thuận Thiên thứ 2 (1429), Lê Thái Tổ hạ chiếu cho quân nhân các lộ và những người ẩn dật ở rừng núi, cùng là các quan từ tứ phẩm trở xuống, ai tinh thông kinh sử thì đến cả sảnh đường để thi. Khoa thi lấy đỗ 32 người.
5. Thời Mạc
Mạc Đăng Dung, năm Minh Đức thứ 2 (1529) tổ chức thi Hội. Thể lệ thi cử đều theo như nhà Lê. Dẫu bận chiến tranh mà vẫn không bỏ thi cử (3 năm một lần), “vì thế được nhiều người tài giỏi giúp việc giữ nước chống nhà Lê, kéo dài hơn 60 năm, ấy cũng là cái công hiệu của khoa cử đó”(1).
6. Thời Lê Trung Hưng
Trung Tông, năm Thuận Bình thứ 3 (1554), bắt đầu đặt chế khoa (khoa thi đặc biệt mở để lấy người tài giỏi) để chọn người. Bấy giờ mới lập hành cung ở An Trường, liền sai mở trường thi hội, lấy đỗ xuất thân và đồng xuất thân theo thứ bậc khác nhau.
Về khoa cử, nhà sử học Phan Huy Chú xét rằng: “Văn chương thi cử thời Lê, sau khi trung hưng so với khi khai quốc khác nhau rất xa. Khi trước văn gọn mà ý sâu, đến sau trung hưng thì văn rườm rà mà ý cạn. Khi trước văn lưu loát mà rộng, đến sau trung hưng thì văn hẹp hòi mà quê mùa. Vì từ đời Quang Hưng, Hoằng Định về sau, văn vận đã biến, học nghiệp cũng khác; người đi học chỉ biết noi theo khuôn sáo không biết học rộng là hơn; người chấm văn chỉ cầu lấy người nhớ sách thuộc cũ, mà không nghĩ hiểu rộng là đáng chuộng”(2).
7. Thời Nguyễn
Năm 1807, vua Gia Long ban hành quy chế thi Hương, lúc đầu chủ yếu ở Bắc Thành, sau mở dần ra cả nước. Năm 1822, nhà Nguyễn mới có điều kiện mở khoa thi Hội đầu tiên. Năm 1829, vua Minh Mạng cho lấy thêm học vị Phó Bảng (Tiến sĩ hạng 3), kỳ hạn thi cũng không cố định.
THỂ LỆ THI
Thể lệ khoa cử Nho học thời phong kiến ở nước ta khá phức tạp nhưng chặt chẽ, nhằm tuyển chọn người có tài, học rộng và bổ nhiệm làm quan:
1. Thi Hương
Thi Hương là khoa thi Nho học liên tỉnh, từ năm Nhâm Tuất, niên hiệu Bảo Đại 3 (1442), đời vua Lê Thái Tông, hoặc 6 hoặc 5 năm mở một khoa, chưa có định lệ, từ khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận 4 (1463), đời vua Lê Thánh Tông mới định 3 năm tổ chức một lần: thi Hương được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu; thi Hội vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Thí sinh thi đỗ khoa thi Hương (giải nguyên), một năm sau, mới được dự cấp cao hơn là thi Hội, và nếu đậu thi Hội sẽ vào xếp hạng Tiến sĩ khi thi Đình.
Thi Hương được tổ chức tại các trường thi, nhiều tỉnh chọn chung một trường. Kỳ thi gồm 4 kỳ: Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ. Thí sinh đỗ kỳ trước mới được tham dự kỳ tiếp theo. Năm Vĩnh Trị thứ 3 (1678), đời vua Lê Hy Tông, ban hành điều lệ: cứ ngày 8 tháng 8 là trường nhất, ngày 18 là trường nhì, ngày 24 là trường ba, ngày 28 là trường tư. Chấm thi kỳ Đệ tứ xong, quan Giám khảo xếp thứ tự thí sinh đỗ từ cao xuống thấp. Sĩ tử đỗ cả 4 kỳ thi Hương (đậu tứ trường) sẽ phân thành 2 hạng cử nhân và tú tài.
Số đậu là do triều đình quy định, hạn chế trước cho mỗi trường thi, thường thì lấy 1 cử nhân và 2 tú tài. Đời nhà Lê gọi thí sinh đậu kỳ thi Hương là Hương cống, sĩ tử đậu tú tài còn được gọi là Sinh đồ, đời nhà Nguyễn gọi chung là cử nhân.
2. Thi Hội
Thi Hội là hội thi của nhân sĩ cả nước, thường lệ 3 năm tổ chức một lần, tại Kinh đô (trước sân điện Giảng Võ), để tuyển chọn người có tài, học rộng. Người nào qua cả 4 kỳ (tứ trường: nhất, nhì, ba, tư) của khoa thi Hội là đậu đại khoa, sẽ vào tiếp thi Đình để xếp hạng Tiến sĩ, nếu chỉ đậu 3 kỳ gọi là đậu Tam trường thi Hội. Người đỗ đầu các vị đại khoa thi Hội gọi là Hội nguyên. Thi Hội rất khó nên đậu Tam trường thi Hội và Tiến sĩ đều có thể được bổ nhiệm giữ chức vụ quan trọng.
Từ năm 1434, đời vua Lê Thái Tông, quy định thi Hội tương tự như thi Hương, cũng có 4 kỳ:
- Kỳ I: kinh thư, thư nghĩa
- Kỳ II: chiếu, chế, biểu
- Kỳ III: thơ phú
- Kỳ IV: văn sách
Trước năm 1442, thí sinh đỗ cả 4 kỳ được công nhận là trúng cách thi Hội, nếu không tiếp tục thi Đình thì chỉ là Cống sĩ, tiếp tục thi Đình mới được xếp loại và công nhận học vị Tiến sĩ. Từ năm 1442, thí sinh đậu thi Hội mới có học vị Tiến sĩ (Thái học sinh), dân gian gọi là ông Nghè. Như vậy, thí sinh đỗ thi Hội đã có học vị Tiến sĩ, thi Đình là xếp hạng Tiến sĩ (phân 5 bậc cao thấp). Thời nhà Nguyễn, những thí sinh thiếu điểm đỗ Tiến sĩ có thể được cứu xét và cho học vị là Phó bảng.
3. Thi Đình
Thi Đình (Đình thí, Điện thí) là khóa thi Nho học cao cấp nhất do triều đình tổ chức. Sinh đồ đỗ khoa thi Hội mới được dự thi. Đỗ đầu thi Đình gọi là Đình nguyên hay Điện nguyên.
Phép thi Hội còn thuộc về các quan trường vâng mệnh nhà vua và thể lệ công việc còn do Hữu ty làm. Đến ngày thi Đình, nhà Vua tự ra sách vấn, thể chế rất long trọng.
4. Xếp hạng các bậc (ba bậc đầu là Tam khôi)
- Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ nhất danh (Trạng nguyên)
- Tiến sỹ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ nhị danh (Bảng nhãn)
- Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ tam danh (Thám hoa)
- Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị giáp, là Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
- Tiến sĩ cập đệ Đệ tam giáp, là Đồng tiến sĩ xuất thân.
5. Thang điểm thi Đình:
- Điểm 10: Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ nhất danh (Trạng nguyên)
- Điểm 9: Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ nhị danh (Bảng nhãn)
- Điểm 8: Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất giáp Đệ tam danh (Thám hoa)
- Điểm 7 và 6: Tiến sĩ cập đệ Đệ nhị giáp, là Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp)
- Điểm 5: Tiến sĩ cập đệ Đệ tam giáp, là Đồng tiến sĩ xuất thân
- Dưới 5 điểm: Phó bảng
Từ năm 1851, vua Tự Đức cho lấy thêm Phó bảng, người có số điểm thi Hội gần số điểm Chánh bảng, được tham dự thi Đình để có thêm cơ hội phấn đấu. Nếu đạt điểm đỗ Tiến sĩ thì được công nhận là Tiến sĩ. Do vậy, bảng điểm cũng được sửa: đạt từ điểm 4 đến 5 thì đỗ Tiến sĩ cập đệ Đệ tam giáp (Đồng tiến sĩ xuất thân); từ 3 điểm trở xuống đỗ Phó bảng (Ất tiến sĩ).
Từ khoa thi Nho học đầu tiên năm 1075 đến khoa thi cuối cùng năm 1919, cả nước khoảng 3.000 người có học vị Tiến sĩ và Phó bảng.
TS.Đoàn Trường Sơn
1(?) Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương loại chí, tập II, Nxb. Khoa học xã hội, 1992, tr.165.
2(?) Lịch triều hiến chương loại chí, sđd, tr.171.
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn
PHÉP THI NHO HỌC
CLB Hải Phòng học tổ chức đoàn tham quan chiêm bái tìm hiểu các di tích tâm linh ở tỉnh Phú Thọ và thành phố Hà Nội.
Hải Phòng và xứ Đông với nguồn lực biển – nhìn từ lịch sử giao lưu tôn giáo thời kì đầu tiên
Bạch Long Vĩ – cứ địa tiền tiêu của Tổ Quốc
Khoa cử Việt Nam thời phong kiến và danh hiệu Trạng nguyên