Chu Xuân Giao
Phân Hội Khoa học Địa lý Phong thủy Việt Nam – Hội Địa lý Môi trường Việt Nam
Viện Nghiên cứu Văn hóa – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Lời mở
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, khu vực Hải Phòng, rộng hơn là xứ Đông, giữ một vị trí đặc biệt không chỉ về địa chính trị mà còn về phương diện giao lưu văn hóa tôn giáo. Với vị trí thiên phú là một cửa ngõ trọng yếu nhất hướng ra biển của vùng đất Giao Chỉ (sau này là các vương triều Đại Việt, Đại Nam), Hải Phòng từ rất sớm đã trở thành cầu nối giữa nội địa với thế giới bên ngoài. Yếu tố nguồn lực biển vì thế không chỉ có ý nghĩa về quân sự và kinh tế, mà đặc biệt ở chỗ là cửa ngõ cho sự giao lưu của các hệ tư tưởng trên thế giới, mà tham luận lần này đề cập đến là tư tưởng Đạo giáo (thế giới thần tiên) và tư tưởng Phật giáo (thế giới Bụt), đều ở thời kì sớm (thời kì quen gọi là "hữu sử dĩ lai", có nghĩa là "từ khi có ghi chép lịch sử đến nay"). Nói cho dễ hình dung, thì đều là các cuộc tiếp xúc quan trọng diễn ra trước năm 0 dương lịch. Hoặc nói cách khác là, đều trước thời Hai Bà Trưng (đầu thập niên 40 sau công nguyên).
Lịch sử giao lưu tôn giáo ở Việt Nam thời kì đầu tiên từ góc độ biển (hải dương) tại vùng đất Hải Phòng xứ Đông, ở bài này, là thông qua hai trường hợp tiêu biểu: (1). Dấu ấn của phương sĩ Yên Kì Sinh trong mối liên hệ với núi Yên Tử và tư tường thần tiên phúc địa ở thời kì Đạo giáo còn chưa chính thức ra đời (Đạo giáo ra đời chính thức vào thế kỉ II; còn Yên Kì Sinh là người ngang với thời Tần Thủy Hoàng – trước công nguyên); và (2). Vấn đề xác định vị trí thành Nê Lê gắn
với truyền thuyết về các phái đoàn truyền giáo thời A Dục Vương (Asoka) của Ấn Độ, với giả thuyết đặt tại khu vực Đồ Sơn – nay là khu vực dựng tháp Tường Long sau này. Từ đó, bài viết đưa ra luận điểm: Hải Phòng - xứ Đông là một trong những điểm tiếp xúc sớm nhất của Việt Nam với các hệ tư tưởng lớn châu Á thông qua con đường biển.
1. Phương sĩ Yên Kì Sinh 安期生 và tư tưởng “phúc địa 福地” trước khi Đạo giáo hình thành
Khái niệm “động thiên phúc địa 洞天福地” được hệ thống hóa muộn hơn trong kinh điển Đạo giáo, nhưng có nguồn gốc từ truyền thống phương sĩ thời Tiên Tần - Hán sơ (trước khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi hoàng đế mở ra Tần, và đầu thời Hán).
Trước khi Đạo giáo trở thành một tôn giáo có tổ chức vào khoảng thế kỷ II sau công nguyên, trong xã hội Trung Hoa cổ đại đã tồn tại một tầng lớp đặc biệt gọi là phương sĩ. Họ là những người hành nghề thuật số, luyện đan, tìm kiếm trường sinh bất tử và đặc biệt quan tâm đến các không gian thiêng trong tự nhiên.
Khái niệm “động thiên phúc địa” hình thành từ rất sớm trong giới phương sĩ, chỉ những nơi hội tụ linh khí trời đất, thích hợp cho việc tu luyện. Các “phúc địa” này thường nằm ở vùng núi cao, gần biển, hoặc tại các giao điểm đặc biệt giữa các yếu tố tự nhiên. Điều này khiến khu vực ven biển Đông Nam trở thành một hướng tìm kiếm quan trọng.
洞天福地 (động thiên phúc địa)
三十六洞天,七十二福地 (tam thập lục động thiên, thất thập nhị phúc địa)
Dù các bản đồ về động thiên và phúc địa (洞天福地圖) hiện còn đều có niên đại muộn, là thuộc thời Tống trở đi (hiện chưa tìm được bản đồ sớm hơn), nhưng chính sự tồn tại của chúng trong các tư liệu sớm cho thấy rằng các không gian như dãy núi Yên Tử 安子山 (ở Giao Chỉ/Giao Châu) đã được tích hợp vào một hệ thống địa lí thiêng có nguồn gốc sớm hơn nhiều, ít nhất từ truyền thống phương sĩ thời Tần – Hán.
安期生 Yên Kì Sinh = 安子 Yên Tử (thầy Yên). Chữ Tử 子 có nghĩa là "thầy", như ta nói "Khổng tử" (thầy Khổng), "Mạnh tử" (thầy Mạnh), "Trang tử" (thầy Trang),…
安子山 Yên Tử Sơn = núi thầy Yên = núi Yên Kì Sinh.



安期生遇仙

Yên Kì Sinh 安期生 được ghi nhận trong các thư tịch cổ, như Sử kí (Tư Mã Thiên) và rất nhiều truyện thần tiên được viết bằng Hán văn, gắn với truyền thống phương sĩ thời Tần. Có một số ghi chép về Yên Kì Sinh là một người giỏi về thuốc, đi bán thuốc trong thiên hạ, có cả cơ hội gặp được Tần Thủy Hoàng. Về giả thuyết Yên Kì Sinh đã di chuyển bằng đường biển xuống phương Nam, có thể tham khảo các nghiên cứu đi trước, đặc biệt là của học giả Nhật Bản là Onishi Kazuhi 大西和彦, nhấn mạnh vai trò của tuyến duyên hải Hoa Nam - Giao Chỉ. Có thể tóm gọn thành hai điểm chính sau:
Một là, Yên Kì Sinh là một phương sĩ nổi tiếng thời Tần, thường được nhắc đến trong mối liên hệ với các hoạt động tìm kiếm tiên dược. Ông xuất hiện trong bối cảnh mà tri thức địa li thiêng đã định hình, đặc biệt là ý niệm về các “phúc địa” ở phương Nam.
Hai là, việc Yên Kì Sinh đi về phương Nam vì thế không phải là một hành trình ngẫu nhiên, mà là một cuộc tìm kiếm có định hướng. Một số nghiên cứu hiện đại đã giả định rằng ông di chuyển bằng đường biển từ duyên hải Hoa Nam xuống khu vực vịnh Bắc Bộ.
Trong bối cảnh hàng hải cổ đại, tuyến duyên hải từ Quảng Đông xuống vịnh Bắc Bộ là hoàn toàn khả thi. Khu vực Hải Phòng - xứ Đông, với hệ thống cửa sông lớn như Bạch Đằng và Thái Bình, tạo thành một không gian tiếp nhận tự nhiên.
Từ đây, các hành trình có thể theo sông tiến sâu vào nội địa, tiếp cận vùng núi Yên Tử. Như vậy, về mặt địa lý, hoàn toàn có thể hình dung một tuyến di chuyển từ biển vào núi.
Sau này và bây giờ, Yên Tử thường được biết đến rộng rãi như trung tâm Phật giáo thời Trần. Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh thời đại của các phương sĩ, thì có thể nhận diện đây là một “phúc địa” trong thế giới "động tiên phúc địa" đã được định vị từ sớm.

Yên Tử được xếp trong hệ thống “72 phúc địa” của Đạo giáo truyền thống (kinh điển Đạo giáo đời Đường - Tống có các bản đồ, nhưng trước đó rất lâu thì các miêu tả bằng lời đã được ghi lại). Việc núi Yên Tử được đưa vào hệ thống này cho thấy sự tích hợp sớm của không gian này vào bản đồ thiêng Đông Á.
Các yếu tố địa lý của Yên Tử – núi cao, gần biển, giàu khoáng vật – phù hợp với tiêu chí của một nơi luyện đan. Truyền thuyết về việc Yên Kì Sinh tìm đan sa tại đây vì thế không phải là yếu tố ngẫu nhiên, mà phản ánh một tầng nhận thức cổ về không gian thiêng.
Về ý nghĩa thì có thể tóm tắt như sau. Trường hợp Yên Kì Sinh cho thấy một sự thực đáng chú ý: trước khi Đạo giáo được Trương Đạo Lăng (sau này là Trương Thiên Sư) thành lập chính thức tại Trung Quốc vào thế kỉ II, các yếu tố của tư tưởng thần tiên đã được mang đến vùng Giao Chỉ thông qua đường biển. Hải Phòng – xứ Đông là cửa ngõ đầu tiên của dòng truyền nhập này. Về mặt lịch sử tôn giáo, đây là việc du nhập đầu tiên một hệ tư tưởng lớn vào vùng đất Giao Chỉ, có thể là ngang hoặc sớm hơn sự du nhập của Phật giáo vào vùng đất này. Thế giới thần tiên và thế giới Phật đã cùng du nhập vào Giao Chỉ - Giao Châu từ trước công nguyên, và đều là qua đường biển, mà cửa ngõ đầu tiên là Hải Phòng – xứ Đông.
Ý nghĩa trên càng giá trị, khi chúng ta so sánh để thấy, ngang thời gian trên, tư tưởng thần tiên cũng đã đến Quảng Châu với nhà Triệu (ông cháu nhà Triệu Đà – Triệu Hồ). Cụ thể như sau (trích từ Chu Xuân Giao 2021, 2022):




Qua nghiên cứu của tôi, các ghi chép về tháp A Dục (vua A Dục cử các đoàn truyền giáo từ Ấn Độ đi các nơi, và đánh dấu bằng các tháp, gọi là "tháp A Dục") tại Giao Châu xuất hiện trong Giao Châu kí (thế kỷ IV–V, được chép lại vào đời sau), văn bia năm 618 tại Thanh Hóa, và Thái Bình hoàn vũ kí (thế kỷ X).



Có nghĩa là các thư tịch cổ Trung Hoa và bia kí Việt Nam đều ghi nhận sự tồn tại của một địa điểm gọi là Nê Lê, nơi có tháp A Dục. Các ghi chép này xuất hiện liên tục từ thế kỷ IV đến thế kỷ X, cho thấy đây không phải là một truyền thuyết rời rạc mà là một ký ức lịch sử được bảo tồn. Trong khi đó, khảo cổ học chưa cung cấp được bằng chứng trực tiếp tương ứng. Điều này đặt ra vấn đề phương pháp luận: cần nhìn nhận truyền thuyết như một dạng “kí ức lịch sử” thay vì bác bỏ hoàn toàn.
Theo các nghiên cứu về thời A Dục, thì chúng ta biết rằng,dưới thời A Dục, các hoạt động truyền bá Phật giáo diễn ra mạnh mẽ, với các phái đoàn được cử đi nhiều nơi. Trong bối cảnh đó, đường biển đóng vai trò chủ đạo, đặc biệt đối với các khu vực Đông Nam Á.Tuyến đường từ Ấn Độ qua vịnh Bengal, qua Đông
Nam Á và tới vịnh Bắc Bộ là hoàn toàn khả thi. Điều này khiến các địa điểm ven biển trở thành ứng viên hợp lý để xác định vị trí Nê Lê.

Vị trí Đồ Sơn cần được đặt trong hệ thống địa lý cổ của Giao Châu. Các nghiên cứu về địa danh học và lịch sử vùng Đông Bắc Việt Nam (Đào Duy Anh 1964) cho thấy khu vực này là cửa ngõ quan trọng ra biển.
Dựa trên mô tả “phía đông nam Giao Châu”, cùng với yêu cầu về một địa điểm ven biển, khu vực Đồ Sơn nổi lên như một khả năng đáng chú ý. Đây là một bán đảo nhô ra biển, thuận lợi cho việc neo đậu và quan sát.
Tháp Tường Long, dù được xây dựng vào thời Lý, nhưng vị trí của nó – trên cao, hướng ra biển – cho thấy khả năng kế thừa một không gian thiêng có từ trước. Điều này phù hợp với giả thuyết rằng nơi đây từng là một điểm dừng chân của các đoàn truyền giáo.
Nếu Đồ Sơn – Tường Long là Nê Lê, thì điều đó cho thấy vùng Hải Phòng đã tham gia vào mạng lưới truyền bá Phật giáo từ rất sớm, có thể từ thời kỳ tiền Hán. Đây là một nhận định có khả năng làm thay đổi cách hiểu về lịch sử Phật giáo Việt Nam.
- Dòng phương sĩ (tiền Đạo giáo) từ Trung Hoa
- Dòng Phật giáo từ Ấn Độ
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn