Hải Phòng và xứ Đông với nguồn lực biển – nhìn từ lịch sử giao lưu tôn giáo thời kì đầu tiên

Thứ tư - 22/04/2026 22:58
Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, khu vực Hải Phòng, rộng hơn là xứ Đông, giữ một vị trí đặc biệt không chỉ về địa chính trị mà còn về phương diện giao lưu văn hóa tôn giáo. Với vị trí thiên phú là một cửa ngõ trọng yếu nhất hướng ra biển của vùng đất Giao Chỉ (sau này là các vương triều Đại Việt, Đại Nam), Hải Phòng từ rất sớm đã trở thành cầu nối giữa nội địa với thế giới bên ngoài.

Chu Xuân Giao
Phân Hội Khoa học Địa lý Phong thủy Việt Nam – Hội Địa lý Môi trường Việt Nam
Viện Nghiên cứu Văn hóa – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Lời mở

Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, khu vực Hải Phòng, rộng hơn là xứ Đông, giữ một vị trí đặc biệt không chỉ về địa chính trị mà còn về phương diện giao lưu văn hóa tôn giáo. Với vị trí thiên phú là một cửa ngõ trọng yếu nhất hướng ra biển của vùng đất Giao Chỉ (sau này là các vương triều Đại Việt, Đại Nam), Hải Phòng từ rất sớm đã trở thành cầu nối giữa nội địa với thế giới bên ngoài. Yếu tố nguồn lực biển vì thế không chỉ có ý nghĩa về quân sự và kinh tế, mà đặc biệt ở chỗ là cửa ngõ cho sự giao lưu của các hệ tư tưởng trên thế giới, mà tham luận lần này đề cập đến là tư tưởng Đạo giáo (thế giới thần tiên) và tư tưởng Phật giáo (thế giới Bụt), đều ở thời kì sớm (thời kì quen gọi là "hữu sử dĩ lai", có nghĩa là "từ khi có ghi chép lịch sử đến nay"). Nói cho dễ hình dung, thì đều là các cuộc tiếp xúc quan trọng diễn ra trước năm 0 dương lịch. Hoặc nói cách khác là, đều trước thời Hai Bà Trưng (đầu thập niên 40 sau công nguyên).

Lịch sử giao lưu tôn giáo ở Việt Nam thời kì đầu tiên từ góc độ biển (hải dương) tại vùng đất Hải Phòng xứ Đông, ở bài này, là thông qua hai trường hợp tiêu biểu: (1). Dấu ấn của phương Yên Kì Sinh trong mối liên hệ với núi Yên Tử và tư tường thần tiên phúc địa ở thời kì Đạo giáo còn chưa chính thức ra đời (Đạo giáo ra đời chính thức vào thế kỉ II; còn Yên Kì Sinh là người ngang với thời Tần Thủy Hoàng – trước công nguyên); và (2). Vấn đề xác định vị trí thành Nê Lê gắn

với truyền thuyết về các phái đoàn truyền giáo thời A Dục Vương (Asoka) của Ấn Độ, với giả thuyết đặt tại khu vực Đồ Sơn – nay là khu vực dựng tháp Tường Long sau này. Từ đó, bài viết đưa ra luận điểm: Hải Phòng - xứ Đông là một trong những điểm tiếp xúc sớm nhất của Việt Nam với các hệ tư tưởng lớn châu Á thông qua con đường biển.

I. Yên Kì Sinh và thế hệ phương sĩ đi khám phá thiên hạ (thế giới Trung Hoa và các khu vực xung quanh) qua đường biển

1. Phương sĩ Yên Kì Sinh 安期生 và tư tưởng “phúc địa 福地trước khi Đạo giáo hình thành

Khái niệm “động thiên phúc địa 洞天福地” được hệ thống hóa muộn hơn trong kinh điển Đạo giáo, nhưng có nguồn gốc từ truyền thống phương sĩ thời Tiên Tần - Hán sơ (trước khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi hoàng đế mở ra Tần, và đầu thời Hán).

Trước khi Đạo giáo trở thành một tôn giáo có tổ chức vào khoảng thế kỷ II sau công nguyên, trong xã hội Trung Hoa cổ đại đã tồn tại một tầng lớp đặc biệt gọi là phương sĩ. Họ là những người hành nghề thuật số, luyện đan, tìm kiếm trường sinh bất tử và đặc biệt quan tâm đến các không gian thiêng trong tự nhiên.

Khái niệm “động thiên phúc địa” hình thành từ rất sớm trong giới phương sĩ, chỉ những nơi hội tụ linh khí trời đất, thích hợp cho việc tu luyện. Các “phúc địa” này thường nằm ở vùng núi cao, gần biển, hoặc tại các giao điểm đặc biệt giữa các yếu tố tự nhiên. Điều này khiến khu vực ven biển Đông Nam trở thành một hướng tìm kiếm quan trọng.

洞天福地 (động thiên phúc địa)

三十六洞天,七十二福地 (tam thập lục động thiên, thất thập nhị phúc địa)

Dù các bản đồ về động thiên và phúc địa (洞天福地圖) hiện còn đều có niên đại muộn, là thuộc thời Tống trở đi (hiện chưa tìm được bản đồ sớm hơn), nhưng chính sự tồn tại của chúng trong các tư liệu sớm cho thấy rằng các không gian như dãy núi Yên Tử 安子山 (ở Giao Chỉ/Giao Châu) đã được tích hợp vào một hệ thống địa lí thiêng có nguồn gốc sớm hơn nhiều, ít nhất từ truyền thống phương sĩ thời Tần – Hán.

安期生 Yên Kì Sinh = 安子 Yên Tử (thầy Yên). Chữ Tử 子 có nghĩa là "thầy", như ta nói "Khổng tử" (thầy Khổng), "Mạnh tử" (thầy Mạnh), "Trang tử" (thầy Trang),…

安子山 Yên Tử Sơn = núi thầy Yên = núi Yên Kì Sinh.

1

 

安期生遇仙
 

 

2. Yên Kì Sinh và hành trình đi về phương Nam

Yên Kì Sinh 安期生 được ghi nhận trong các thư tịch cổ, như Sử kí (Tư Mã Thiên) và rất nhiều truyện thần tiên được viết bằng Hán văn, gắn với truyền thống phương sĩ thời Tần. Có một số ghi chép về Yên Kì Sinh là một người giỏi về thuốc, đi bán thuốc trong thiên hạ, có cả cơ hội gặp được Tần Thủy Hoàng. Về giả thuyết Yên Kì Sinh đã di chuyển bằng đường biển xuống phương Nam, có thể tham khảo các nghiên cứu đi trước, đặc biệt là của học giả Nhật Bản là Onishi Kazuhi 大西和彦, nhấn mạnh vai trò của tuyến duyên hải Hoa Nam - Giao Chỉ. Có thể tóm gọn thành hai điểm chính sau:

Một là, Yên Kì Sinh là một phương sĩ nổi tiếng thời Tần, thường được nhắc đến trong mối liên hệ với các hoạt động tìm kiếm tiên dược. Ông xuất hiện trong bối cảnh mà tri thức địa li thiêng đã định hình, đặc biệt là ý niệm về các “phúc địa” ở phương Nam.

Hai là, việc Yên Kì Sinh đi về phương Nam vì thế không phải là một hành trình ngẫu nhiên, mà là một cuộc tìm kiếm có định hướng. Một số nghiên cứu hiện đại đã giả định rằng ông di chuyển bằng đường biển từ duyên hải Hoa Nam xuống khu vực vịnh Bắc Bộ.

3. Hải Phòng - xứ Đông như một cửa ngõ tiếp nhận

Trong bối cảnh hàng hải cổ đại, tuyến duyên hải từ Quảng Đông xuống vịnh Bắc Bộ là hoàn toàn khả thi. Khu vực Hải Phòng - xứ Đông, với hệ thống cửa sông lớn như Bạch Đằng và Thái Bình, tạo thành một không gian tiếp nhận tự nhiên.

Từ đây, các hành trình có thể theo sông tiến sâu vào nội địa, tiếp cận vùng núi Yên Tử. Như vậy, về mặt địa lý, hoàn toàn có thể hình dung một tuyến di chuyển từ biển vào núi.

4. Núi Yên Tử (núi của thầy Yên, núi mang tên thầy Yên) như một phúc địa tiền Đạo giáo và tiền Phật giáo (có sớm hơn thời kì Đạo giáo và Phật giáo truyền vào Việt Nam)

Sau này và bây giờ, Yên Tử thường được biết đến rộng rãi như trung tâm Phật giáo thời Trần. Tuy nhiên, nếu đặt trong bối cảnh thời đại của các phương sĩ, thì có thể nhận diện đây là một “phúc địa” trong thế giới "động tiên phúc địa" đã được định vị từ sớm.

 

Yên Tử được xếp trong hệ thống “72 phúc địa” của Đạo giáo truyền thống (kinh điển Đạo giáo đời Đường - Tống có các bản đồ, nhưng trước đó rất lâu thì các miêu tả bằng lời đã được ghi lại). Việc núi Yên Tử được đưa vào hệ thống này cho thấy sự tích hợp sớm của không gian này vào bản đồ thiêng Đông Á.

Các yếu tố địa lý của Yên Tử – núi cao, gần biển, giàu khoáng vật – phù hợp với tiêu chí của một nơi luyện đan. Truyền thuyết về việc Yên Kì Sinh tìm đan sa tại đây vì thế không phải là yếu tố ngẫu nhiên, mà phản ánh một tầng nhận thức cổ về không gian thiêng.

5. Ý nghĩa và so sánh: dòng truyền nhập tư tưởng thần tiên vào Quảng Châu, rồi tới Giao Châu qua biển, trước khi Đạo giáo chính thức được thành lập

Về ý nghĩa thì có thể tóm tắt như sau. Trường hợp Yên Kì Sinh cho thấy một sự thực đáng chú ý: trước khi Đạo giáo được Trương Đạo Lăng (sau này là Trương Thiên Sư) thành lập chính thức tại Trung Quốc vào thế kỉ II, các yếu tố của tư tưởng thần tiên đã được mang đến vùng Giao Chỉ thông qua đường biển. Hải Phòng – xứ Đông là cửa ngõ đầu tiên của dòng truyền nhập này. Về mặt lịch sử tôn giáo, đây là việc du nhập đầu tiên một hệ tư tưởng lớn vào vùng đất Giao Chỉ, có thể là ngang hoặc sớm hơn sự du nhập của Phật giáo vào vùng đất này. Thế giới thần tiên và thế giới Phật đã cùng du nhập vào Giao Chỉ - Giao Châu từ trước công nguyên, và đều là qua đường biển, mà cửa ngõ đầu tiên là Hải Phòng – xứ Đông.

Ý nghĩa trên càng giá trị, khi chúng ta so sánh để thấy, ngang thời gian trên, tư tưởng thần tiên cũng đã đến Quảng Châu với nhà Triệu (ông cháu nhà Triệu Đà – Triệu Hồ). Cụ thể như sau (trích từ Chu Xuân Giao 2021, 2022):

6
7

 

8

 


II. Thành Nê Lê và dòng truyền bá Phật giáo thời A Dục Vương

1. Vấn đề sử liệu và kí ức lịch sử

Qua nghiên cứu của tôi, các ghi chép về tháp A Dục (vua A Dục cử các đoàn truyền giáo từ Ấn Độ đi các nơi, và đánh dấu bằng các tháp, gọi là "tháp A Dục") tại Giao Châu xuất hiện trong Giao Châu kí (thế kỷ IV–V, được chép lại vào đời sau), văn bia năm 618 tại Thanh Hóa, và Thái Bình hoàn vũ kí (thế kỷ X).

 

 

 

Có nghĩa là các thư tịch cổ Trung Hoa và bia kí Việt Nam đều ghi nhận sự tồn tại của một địa điểm gọi là Nê Lê, nơi có tháp A Dục. Các ghi chép này xuất hiện liên tục từ thế kỷ IV đến thế kỷ X, cho thấy đây không phải là một truyền thuyết rời rạc mà là một ký ức lịch sử được bảo tồn. Trong khi đó, khảo cổ học chưa cung cấp được bằng chứng trực tiếp tương ứng. Điều này đặt ra vấn đề phương pháp luận: cần nhìn nhận truyền thuyết như một dạng “kí ức lịch sử” thay vì bác bỏ hoàn toàn.

2. Con đường truyền giáo bằng đường biển:

Theo các nghiên cứu về thời A Dục, thì chúng ta biết rằng,dưới thời A Dục, các hoạt động truyền bá Phật giáo diễn ra mạnh mẽ, với các phái đoàn được cử đi nhiều nơi. Trong bối cảnh đó, đường biển đóng vai trò chủ đạo, đặc biệt đối với các khu vực Đông Nam Á.Tuyến đường từ Ấn Độ qua vịnh Bengal, qua Đông

Nam Á và tới vịnh Bắc Bộ là hoàn toàn khả thi. Điều này khiến các địa điểm ven biển trở thành ứng viên hợp lý để xác định vị trí Nê Lê.

3. Giả thuyết Nê Lê là Đồ Sơn – khu vực có tháp Tường Long:

 

Vị trí Đồ Sơn cần được đặt trong hệ thống địa lý cổ của Giao Châu. Các nghiên cứu về địa danh học và lịch sử vùng Đông Bắc Việt Nam (Đào Duy Anh 1964) cho thấy khu vực này là cửa ngõ quan trọng ra biển.

Dựa trên mô tả “phía đông nam Giao Châu”, cùng với yêu cầu về một địa điểm ven biển, khu vực Đồ Sơn nổi lên như một khả năng đáng chú ý. Đây là một bán đảo nhô ra biển, thuận lợi cho việc neo đậu và quan sát.

Tháp Tường Long, dù được xây dựng vào thời Lý, nhưng vị trí của nó – trên cao, hướng ra biển – cho thấy khả năng kế thừa một không gian thiêng có từ trước. Điều này phù hợp với giả thuyết rằng nơi đây từng là một điểm dừng chân của các đoàn truyền giáo.

Nếu Đồ Sơn – Tường Long là Nê Lê, thì điều đó cho thấy vùng Hải Phòng đã tham gia vào mạng lưới truyền bá Phật giáo từ rất sớm, có thể từ thời kỳ tiền Hán. Đây là một nhận định có khả năng làm thay đổi cách hiểu về lịch sử Phật giáo Việt Nam.

4. Mô hình “Phật vương” và sự tiếp nối văn hóa:

Hình ảnh A Dục Vương – một vị vua chuyển hóa thành người hộ trì Phật pháp – có thể được đặt trong một bình diện so sánh với Trần Nhân Tông của Việt Nam. Cả hai đều thể hiện một mô hình kết hợp giữa quyền lực chính trị và lý tưởng tôn giáo.

Sự tương đồng này có thể được hiểu như một mô hình văn hóa lan tỏa trong không gian châu Á, thông qua các tuyến giao thương biển. Trong bối cảnh đó, Hải Phòng – xứ Đông không chỉ là điểm tiếp nhận, mà còn là nơi trung chuyển và biến đổi các mô hình này.

III. Hải Phòng – xứ Đông như một không gian giao lưu tôn giáo sớm:
 

1. Biển như một hành lang văn hóa:

Trong thế giới cổ đại, biển không chỉ là không gian vận tải mà còn là hành lang văn hóa. Các hệ tư tưởng có thể lan truyền nhanh chóng thông qua các tuyến hàng hải, vượt qua những hạn chế của địa hình lục địa. Ở đây, ta thấy cả phương sĩ của thế giới thần tiên và các nhà truyền giáo đến từ Phật giáo Ấn Độ thời kì xa xưa.

Từ hai trường hợp đã phân tích, có thể nhận diện hai dòng truyền nhập lớn:

Dòng phương sĩ (tiền Đạo giáo) từ Trung Hoa

Dòng Phật giáo từ Ấn Độ

Cả hai đều có điểm chung: đi qua biển và tiếp cận vùng Hải Phòng – xứ Đông trước khi lan tỏa vào nội địa.

2. Vai trò của Hải Phòng và xứ Đông trong lịch sử khu vực

Điều này cho phép nhìn nhận lại vai trò của Hải Phòng: không chỉ là một trung tâm kinh tế – quân sự, mà còn là một không gian giao lưu tôn giáo từ rất sớm. “Nguồn lực biển” vì thế cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả khả năng tiếp nhận và chuyển hóa các dòng tư tưởng.

Kết luận

Cách tiếp cận “biển như hành lang tôn giáo” hiện được quan tâm trong các nghiên cứu liên ngành về lịch sử khu vực. Bài viết này gợi ý khả năng áp dụng hướng tiếp cận đó vào trường hợp Việt Nam, đặc biệt là vùng Hải Phòng – xứ Đông.

Qua hai trường hợp Yên Kì Sinh và thành Nê Lê, có thể thấy rằng vùng Hải Phòng – xứ Đông đã đóng vai trò như một cửa ngõ tiếp nhận các dòng chảy tôn giáo lớn của châu Á ngay từ thời kỳ sớm. Không gian biển ở đây không chỉ là điều kiện vật chất, mà còn là nền tảng cho sự hình thành các lớp văn hóa – tôn giáo. Việc nhận diện lại vai trò này không chỉ có ý nghĩa học thuật, mà còn góp phần định vị lại giá trị lịch sử – văn hóa của Hải Phòng trong bối cảnh hiện đại, khi yếu tố biển tiếp tục là một nguồn lực quan trọng cho phát triển.

Tài liệu tham khảo

 

  1. Chu Xuân Giao, 2020, “Đạo giáo thời Bắc thuộc : Tổng quan, con đường du nhập và giáo phái chính yếu”, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 7 (199), trang 78-95.

  2. Chu Xuân Giao, 2021, “Phật giáo vùng Giao Chỉ trước và sau thời Hai Bà Trưng - Bối cảnh chung để nhận diện về sư bà Phương Dung”, In trong Kỷ yếu Hội thảo “Sư bà Phương Dung với Đạo pháp và Dân tộc”, Hội đồng Trị sự Phật giáo Việt Nam - Viện Nghiên cứu Tôn giáo - Ban Tôn giáo Thành phố Hà Nội - Ủy ban Nhân dân huyện Thanh Trì đồng tổ chức hội thảo và ấn hành kỷ yếu, Hà Nội: 2021.

  3. Chu Xuân Giao, 2022, “Phật giáo vùng Giao Chỉ trước và sau thời Hai Bà Trưng – Bối cảnh chung để nhận diện về sư bà Phương Dung”, In trong sách Sư bà Phương Dung với đạo pháp và dân tộc (Thích Thọ Lạc – Chu Văn Tuấn đồng chủ biên), 2022, Hà Nội : Nxb Khoa học Xã hội, trang 115-130.

  4. Chu Xuân Giao, 2024a, "An aspect of the three-teachings in the Trúc Lâm Buddhist of the Trần dynasty in Vietnam: The unique Tam Phủ system in the Bảo Đỉnh Hành Trì associated with Master Huyền Quang (1254-1334)". Thang Long Journal of Science: Van hien and Heritage, 3(01), 1-18

  5. Chu Xuân Giao, 2025b, "Kỷ nhà Ngô (939-967) nhìn từ lịch sử Đạo giáo Việt Nam thời Bắc thuộc" (chương 5 phần I)", In trong Đức vương Ngô Quyền trong tâm thức Việt (Nhiều tác giả, Hà Nội : Nxb Hồng Đức, 2024). trang 100-134.

  6. Đào Duy Anh, 1963, “Cái bia cổ ở Trường Xuân với vấn đề nhà Tiền Lý”, Tạp chí

Nghiên cứu lịch sử, số 50 (5.1963), trang 22-28.

  1. Hạng Thanh 項青 (Xiang Qing) 2018「百越文化圏における卵生説話の源流考 : 龍母伝説を中心に ( 石汝杰教授 退職記念号)」(The Ryu-bo Legend in the Southern Part of China (Hyakuetsu-cultural area) and the Southeast Asian Countries)熊本学園大学『文学・言語学論集』第 24 巻第2 ・第 25 巻第1 合併号: 65-114.

  2. Lê Mạnh Thát, 1972, Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên dân tộc ta, Sài Gòn : Tư thư Đại học Vạn Hạnh.

  3. Lê Mạnh Thát, 1982, Nghiên cứu về Mâu Tử, Sài Gòn : Tư thư Đại học Vạn Hạnh.

  4. Lê Mạnh Thát, 2001, Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam - 1, Tp. Hồ Chí Minh : Nxb T.p Hồ Chí Minh.

  5. Lê Mạnh Thát, 2003, Lịch sử Phật giáo Việt Nam Tập I (từ khởi nguyên đến thời Lý Nam Đế), Tp. Hồ Chí Minh : Nxb T.p Hồ Chí Minh.

  6. Lý Lâm Na chủ biên, 2002, Nam Việt tàng trân, Bắc Kinh : Trung Hoa thư cục.

  7. Nguyễn Đăng Thục, 1974, Phật giáo Việt Nam, Sài Gòn : Mặt Đất.

  8. Nguyễn Lang, 1974, Văn Lang dị sử, Sài Gòn : An Tiêm.

  9. Nguyễn Lang, 1994 (1973, 1977, 1992), Việt Nam Phật giáo sử luận -Tập 1, Hà Nội : Nxb Văn học.

  10. Nhiều tác giả (Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga dịch), 1993 (1715), Thiền uyển tập anh, Hà Nội : Nxb Văn học.

  11. Nhiều tác giả (Trung Quốc Tần Hán sử nghiên cứu hội; Trung Sơn đại học Lịch sử hệ; Tây Hán Nam Việt vương Bác vật quán), 2005, Nam Việt quốc sử tích nghiên cứu hội luận văn tuyển tập, Bắc Kinh : Văn vật xuất bản xã.

  12. Onishi Kazuhiko (2000), “Bàn về tên của một số đạo quán ở triều Lý”, Việt Nam học: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất (Đại học Quốc gia Hà Nội – Trung tâm Khoa học và Nhân văn Quốc gia), Nxb. Thế giới, Hà Nội, tr. 327-332.

  13. Onishi Kazuhiko (2001), 「ベトナムの道観・道士と唐宋道教」遊佐昇・野崎充彦・増尾伸一郎編集『講座道教 第6巻 アジア諸地域と道教』雄山閣 tr. 110- 127.

  14. Onishi Kazuhiko (2003), 「ベトナム道教研究史小論」ベトナム社会文化研究会編

『ベトナムの社会と文化』第4号: 3-33.

  1. Onishi Kazuhiko (2006), 「ベトナムの雷神信仰と道教」塚田誠之編『中国・東南アジア大陸部の国境地域における諸民族文化の動態』国立民族学博物館調査報告 No.63: 85-107.

  2. Onishi Kazuhiko (2010), “Bàn về sự truyền bá của giáo phái Chính Nhất Đạo giáo sang Việt Nam”, trong Việt Nam học: Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ III (Viện Khoa học Xã hội Việt Nam – Đại học Quốc gia Hà Nội), tập II, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 395- 415.

  3. Onishi Kazuhiko (2013), 「交州福地安山とベトナムの安子山」日本道教学会『東

方宗教』, No.121: 65-87.

  1. Phạm Nhược Lan, 2020, “Hải lộ tăng nhân dữ cổ đại nam hải khu vực Phật giáo truyền bá (3 – 10 thế kỉ)”, Tạp chí Hải giao sử nghiên cứu số 3 năm 2020, trang 1- 12.

  2. Phạm Lê Huy, 2013, “Nhân thọ xá lợi tháp và văn bía tháp Xá Lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh”, Tạp chí Khảo cổ học số 1, trang 60-80.

  3. Phạm Lê Huy, 2016, “Khảo cứu bia miếu Đào Hoàng (Nghè thôn Thanh Hoài, Thuận Thành, Bắc Ninh)”, Tạp chí Khảo cổ học số 1, trang 48-59.

  4. Thang Dụng Đồng 湯用彤, 1938, Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử 漢魏兩晉南北朝佛教史, 長沙市:商務.

  5. Thang Dụng Đồng 汤用彤, 2018 (2015, 1938), Hán Ngụy lưỡng Tấn Nam Bắc triều Phật giáo sử 汉魏两晋南北朝佛教史, 上海 : 上海人民出版社.

  6. Thích Thọ Lạc – Nguyễn Hồng Dương (đồng chủ biên), 2020, Phương Dung sự tích và hành trạng, Hà Nội : Nxb Tôn giáo.

  7. Thường Nhậm Hiệp (tuyển chú) – Quách Thục Phần (hiệu điểm), 1987, Phật kinh văn học cố sự tuyển, Thượng Hải : Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã.

  8. Trần Nghĩa, 2000, Sưu tầm khảo luận tác phẩm chữ Hán của người Việt Nam trước thế kỉ X, Hà Nội : Nxb Thế giới.

  9. Trần Trọng Dương, 2014, “Văn bia Đại Tùy Cửu Chân- Thứ sử Lê Hầu và lịch sử Việt Nam thế kỷ VI-VII”, Tập san Suối nguồn, Nxb Hồng Đức, trang 13- 72. Bản lưu trên Giao Blog ở địa chỉ sau: https://giaovn.blogspot.com/2020/01/cuoi-nam-cu- xem-lai-van-bia-co-nhat.html

  10. Trần Trọng Kim, 1940, Phật lục, Hà Nội : Editions Le Thang.

  11. Trần Văn Giáp, 1930, “Anonyme : Phât giáo Nam lai khào”. In: BEFEO (Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient), Tome 30, 1930. pp. 151-155.

  12. Trần Văn Giáp, 1932, “Le bouddhisme en Annam, des origines au XIIIe siècle”. In: BEFEO (Bulletin de l'Ecole française d'Extrême-Orient). Tome 32, 1932. pp. 191-268.

  13. Trần Văn Giáp (Tuệ Sỹ dịch), 1968 (1932), Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỉ 13, Sài Gòn : Án quán Vạn Hạnh (Ban tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh).

  14. Vương Khả (王卡 1998), 「越南访道研究报告」中国道教协会『中国道教』, 第 1 期:

38-46.

  1. Vương Khả chủ biên (王卡, 主编, 1999), 『中国道教基础知识』北京: 宗教文化出版社.

 

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây