Phạm Hữu Thư
1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử các quốc gia phương Đông, khoa cử là một thiết chế đặc biệt để tuyển chọn quan lại, bồi dưỡng nhân tài phục vụ triều đình. Khởi nguồn từ Trung Quốc thời Tùy – Đường, hệ thống này đã ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nước lân cận như Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có sự tiếp biến và sáng tạo riêng, phản ánh bản sắc chính trị, văn hóa của mình.
Nếu ở Trung Quốc, khoa cử trở thành công cụ duy trì quyền lực trung ương trong suốt hơn một thiên niên kỷ, hay ở Hàn Quốc, kỳ thi Văn khoa (문과) là con đường tiến thân cho sĩ tử thời kỳ Joseon, thì Nhật Bản lại sớm từ bỏ mô hình này để quay về với chế độ quý tộc thế tập1. Trong dòng chảy đó, Việt Nam đã xây dựng một nền khoa cử độc đáo, vừa kế thừa tinh hoa Nho giáo từ phương Bắc, vừa mang dấu ấn dân tộc. Suốt từ khoa thi đầu tiên năm 1075 dưới triều Lý đến khi bãi bỏ vào năm 1919 dưới triều Khải Định, khoa cử không chỉ là con đường quan lộ mà còn trở thành một biểu tượng văn hóa, nuôi dưỡng truyền thống hiếu học, đề cao trí thức và nhân tài. Đặc biệt, hệ thống đã tuyển chọn được 46 vị Trạng nguyên – những sĩ tử xuất sắc nhất, trở thành biểu tượng của trí tuệ, lòng trung hiếu và tinh thần phụng sự cho nhân dân, đất nước.
Chính từ việc nhìn lại lịch sử khoa cử và cách tuyển chọn hiền tài cho chúng ta có thể thấy rõ vai trò của khoa cử trong việc hình thành đội ngũ trí thức tinh hoa, đồng thời so sánh để nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt của Việt Nam với các quốc gia cùng chung truyền thống hoặc ảnh hưởng từ khoa cử. Điều đó không chỉ giúp hiểu rõ hơn giá trị lịch sử – văn hóa, mà còn gợi mở cho tư duy về cách tuyển chọn, trọng dụng nhân tài trong thời đại ngày nay.
2. Sự hình thành và phát triển của khoa cử Việt Nam thời phong kiến
Khoa cử Việt Nam chính thức mở đầu vào năm 1075, dưới triều vua Lý Nhân Tông, với khoa thi Minh kinh bác học. Đây được coi là khoa thi đầu tiên trong lịch sử, nhằm tuyển chọn nhân tài thông thạo kinh điển Nho giáo để phục vụ triều đình. Một năm sau (1076), triều đình lập Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam – làm trung tâm đào tạo quan lại và trí thức. Giai đoạn này, khoa cử mới chỉ ở bước khởi dựng, chưa hoàn thiện cơ cấu và chưa có các danh hiệu như Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.
Đến triều Trần, hệ thống khoa cử được quy củ và mở rộng theo cách tuyển chọn mới. Từ khoa thi năm 1247, triều đình chính thức đặt ra hệ thống Tam khôi gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, dành cho ba vị trí cao nhất trong kỳ thi Đình. Đây cũng là mốc quan trọng đánh dấu sự ra đời của danh hiệu Trạng nguyên tại Việt Nam. Thời Trần, nhiều Trạng nguyên nổi tiếng xuất hiện, trong đó có Nguyễn Hiền (Trạng nguyên trẻ nhất lịch sử, mới 13 tuổi), Mạc Đĩnh Chi (nổi tiếng văn tài, được sứ thần Trung Hoa kính trọng). Khoa cử dưới thời Trần đã chứng minh tính hiệu quả khi tạo dựng một lớp trí thức uyên thâm, góp phần vào công cuộc trị quốc và kháng chiến chống Nguyên – Mông.
Triều Lê sơ, đặc biệt dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460–1497), là giai đoạn khoa cử đạt đến độ hoàn thiện và hưng thịnh nhất. Nhà Lê đặt ra quy chế rõ ràng cho ba kỳ thi lớn: Thi Hương (tuyển chọn tại địa phương), Thi Hội (thi cấp trung ương), và Thi Đình (do chính nhà vua ra đề, xếp hạng). Từ năm 1484, triều đình còn dựng bia tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, ghi tên những người đỗ đạt, thể hiện chính sách trọng dụng hiền tài. Thời kỳ này, nhiều Trạng nguyên lừng danh xuất hiện, như Nguyễn Trực, Lương Thế Vinh, Vũ Tuấn Chiêu, góp phần quan trọng vào việc xây dựng thể chế, luật pháp, văn hóa và khoa học nước nhà.
Sau khi nhà Lê suy yếu và trải qua giai đoạn phân liệt, khoa cử vẫn được duy trì nhưng mang tính cục bộ, phục vụ quyền lợi của từng chính quyền. Đến triều Nguyễn (1802–1945), chế độ khoa cử được khôi phục trong phạm vi cả nước, với nhiều khoa thi lớn được tổ chức tại kinh đô Huế. Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội biến đổi, cùng với sự du nhập của văn minh phương Tây, hệ thống khoa cử dần bộc lộ tính bảo thủ, thiên lệch, nặng vào kinh điển Nho giáo, ít chú trọng đến khoa học và kỹ nghệ thực tiễn.
Đầu thế kỷ XX, trước sức ép của công cuộc cải cách và yêu cầu canh tân đất nước, khoa cử ngày càng tỏ ra lỗi thời. Năm 1919, dưới triều Khải Định, triều đình chính thức bãi bỏ chế độ khoa cử Nho học. Sự kiện này khép lại một chặng đường gần 900 năm tồn tại, để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa và lịch sử Việt Nam.
3. Cấu trúc và nội dung thi cử
Hệ thống khoa cử Việt Nam thời phong kiến được tổ chức thành ba cấp độ lớn, kế thừa từ mô hình Trung Hoa nhưng có sự điều chỉnh phù hợp với bối cảnh Đại Việt, đó là:
- Thi Hương: tổ chức tại các trấn, lộ hoặc tỉnh, thường 3 năm một lần. Thí sinh vượt qua kỳ thi này được gọi là Cử nhân, còn ai chỉ đỗ ở mức thấp hơn thì được gọi là Tú tài. Đây là vòng loại quan trọng để tuyển người đủ tư cách bước vào kỳ thi cấp cao hơn.
- Thi Hội: tổ chức tại kinh đô, quy tụ sĩ tử cả nước đã đỗ Hương cống (Cử nhân). Người đỗ đạt kỳ thi này được gọi là Tiến sĩ và đủ tư cách vào thi Đình.
- Thi Đình: là kỳ thi cao nhất, được tổ chức tại sân điện của nhà vua. Vua trực tiếp ra đề hoặc duyệt đề, đồng thời tham gia chấm điểm và xếp hạng. Những người đỗ Tiến sĩ ở kỳ thi Hội sẽ được phân thứ bậc cụ thể: Đệ nhất giáp, Đệ nhị giáp, Đệ tam giáp, tạo thành hệ thống phân tầng khoa bảng rất chặt chẽ.

Trường thi Nam Định năm 1897 (Nguồn ảnh: manhhai | Flickr)
Kỳ thi Đình phong tặng các danh hiệu cao quý cho ba người đứng đầu, gọi là Tam khôi: Trạng nguyên – người đứng đầu bảng, được xem là biểu tượng trí tuệ và thành đạt cao nhất. Bảng nhãn – người đỗ vị trí thứ hai và Thám hoa – người đứng thứ ba.
Nội dung thi cử: Các môn thi chủ yếu dựa vào kinh điển Nho giáo và khả năng văn chương, hoặc bàn luận về chính trị, đạo lý, đường lối trị quốc, an dân. Thơ phú, văn đối: kiểm tra năng lực sáng tác, ứng đối và tài văn chương. Ngoài ra, ở một số triều đại, thí sinh có thể thi thêm về luật pháp, binh thư, toán học… nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
Đặc biệt, trong kỳ thi Đình, nội dung thi không chỉ kiểm tra kiến thức kinh điển mà còn yêu cầu thí sinh trình bày quan điểm chính trị, đường lối trị nước, qua đó nhà vua có thể chọn ra người thực sự tài đức để trọng dụng.
Với quan niệm để con thành người thành đạt, cha ông ta từ xưa đã tâm đắc với triết lý: Học để làm người. Vì vậy, hầu như các gia đình đều cố gắng cho con đi học trường làng. Từ nhà khá giả đến người dân cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, tất cả đều cho con tới học thầy (Phạm Tất Dong, 2022). Hệ thống khoa cử thời phong kiến đã mở ra con đường tiến thân cho mọi tầng lớp xã hội, từ con em quan lại đến nông dân nghèo, hình thành quan niệm “hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Không ít Trạng nguyên xuất thân tầng lớp bình dân nhưng bằng trí tuệ và nghị lực đã vươn lên trở thành bậc hiền tài giúp nước, như Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, ... Qua đó, khoa cử góp phần hình thành một xã hội coi trọng giáo dục, khuyến khích học tập và tạo nên tầng lớp trí thức nho sĩ – lực lượng quan trọng trong đời sống chính trị, văn hóa của đất nước. Nhà văn hóa Phan Ngọc đã nhận xét “Chế độ học tập ngày xưa đã cấp cho đất nước một nền học vấn rất phổ cập, đến mức so với các nước châu Âu trước cách mạng tư sản thì tỷ lệ biết chữ của người Việt Nam vẫn đông hơn. Nó tạo nên một đất nước yêu quý văn học, hết sức ham học”2.
4. Những Trạng nguyên Việt Nam và di sản để lại
Tính từ khoa thi đầu tiên năm 1247 đến năm kết thúc là 1919, cả nước đã chọn ra 46 Trạng nguyên, 48 Bảng Nhãn, 76 Thám Hoa, 2.462 Tiến sĩ, 266 Phó Bảng. Tổng cộng có 2.898 nhà khoa bảng (Phạm Tất Dong, 2022).
Danh sách 46 Trạng nguyên Việt Nam
|
Tỉnh/thành phố |
Tên Trạng nguyên |
Khoa thi năm |
Quê quán (trước 1/7/2025) |
Tuổi đỗ Trạng nguyên |
Tổng số |
|
Bắc Ninh |
Nguyễn Quan Quang |
1246 |
Tiên Sơn, Bắc Ninh. |
|
14 |
|
|
Đào Sư Tích |
1374 |
Yên Dũng, Bắc Giang |
|
|
|
|
Nguyễn Nghiêu Tư |
1448 |
Quế Võ, Bắc Ninh |
|
|
|
|
Vũ Kiệt |
1472 |
Thuận Thành, Bắc Ninh |
20 tuổi. |
|
|
|
Nguyễn Quang Bật |
1484 |
Thuận Thành, Bắc Ninh. |
21 tuổi. |
|
|
|
Nghiêm Viện |
1496 |
Quế Võ, Bắc Ninh |
|
|
|
|
Nguyễn Giản Thanh |
1508 |
Tiên Sơn, Bắc Ninh |
28 tuổi. |
|
|
|
Ngô Miễn Thiệu |
1518 |
Tiên Sơn, Bắc Ninh |
20 tuổi |
|
|
|
Hoàng Văn Tán |
1523 |
Yên Phong, Bắc Ninh. |
|
|
|
|
Giáp Hải |
1538 |
Lạng Giang, Bắc Giang. |
32 tuổi |
|
|
|
Nguyễn Lượng Thái |
1553 |
Thuận Thành, Bắc Ninh |
29 tuổi. |
|
|
|
Vũ Giới |
1577 |
Gia Lương, Bắc Ninh. |
37 tuổi |
|
|
|
Nguyễn Xuân Chính |
1637 |
Tiên Sơn, Bắc Ninh |
50 tuổi |
|
|
|
Nguyễn Đăng Đạo |
1683 |
Tiên Sơn, Bắc Ninh |
33 tuổi. |
|
|
Hải Phòng |
Trần Quốc Lặc |
1256 |
Nam Sách, Hải Dương |
|
11 |
|
|
Trần Cố |
1266 |
Thanh Miện, Hải Dương |
|
|
|
|
Mạc Đĩnh Chi |
1304 |
Nam Sách, Hải Dương |
|
|
|
|
Trần Sùng Dĩnh |
1487 |
Nam Sách, Hải Dương |
23 tuổi |
|
|
|
Vũ Dương |
1493 |
Nam Sách, Hải Dương |
22 tuổi |
|
|
|
Lê Ích Mộc |
1502 |
Thủy Nguyên, Hải Phòng |
44 tuổi |
|
|
|
Lê Nại |
1505 |
Bình Giang, Hải Dương |
27 tuổi |
|
|
|
Trần Tất Văn |
1527 |
An Lão, Hải Phòng |
|
|
|
|
Nguyễn Bỉnh Khiêm |
1535 |
Vĩnh Bảo, Hải Phòng |
45 tuổi |
|
|
|
Phạm Trấn |
1556 |
Tứ Lộc, Hải Dương |
34 tuổi |
|
|
|
Phạm Duy Quyết |
1562 |
Chí Linh, Hải Dương |
42 tuổi |
|
|
Hà Nội |
Nguyễn Trực |
1442 |
Thanh Oai, Hà Tây |
26 tuổi |
8 |
|
|
Vũ Tuấn Chiêu |
1475 |
Từ Liêm, Hà Nội |
50 tuổi |
|
|
|
Hoàng Nghĩa Phú |
1511 |
Chương Mỹ, Hà Tây |
31 tuổi |
|
|
|
Nguyễn Đức Lương |
1514 |
Thanh Oai, Hà Tây. |
51 tuổi |
|
|
|
Nguyễn Thiến |
1532 |
Thanh Oai, Hà Tây |
38 tuổi |
|
|
|
Nguyễn Quốc Trinh |
1659 |
Thanh Trì, Hà Nội |
35 tuổi |
|
|
|
Đặng Công Chấn |
1661 |
Gia Lâm, Hà Nội |
40 tuổi |
|
|
|
Lưu Danh Công |
1670 |
Thanh Trì, Hà Nội |
27 tuổi |
|
|
Hưng Yên |
Phạm Đôn Lễ |
1481 |
Hưng Hà, Thái Bình |
27 tuổi. |
5 |
|
|
Đỗ Lý Nghiêm |
1499 |
Vũ Thư, Thái Bình |
|
|
|
|
Đỗ Tông |
1529 |
Mỹ Văn, Hưng Yên |
26 tuổi |
|
|
|
Nguyễn Kỳ |
1541 |
Châu Giang, Hưng Yên |
24 tuổi |
|
|
|
Dương Phúc Tư |
1547 |
Mỹ Văn, Hưng Yên |
43 tuổi. |
|
|
Ninh Bình |
Nguyễn Hiền |
1247 |
Nam Trực, Nam Định |
13 tuổi |
3 |
|
|
Lương Thế Vinh |
1463 |
Vụ Bản, Nam Định. |
23 tuổi. |
|
|
|
Trần Văn Bảo |
1550 |
Nam Trực, Nam Định |
27 tuổi. |
|
|
Phú Thọ |
Vũ Duệ |
1490 |
Phong Châu, Phú Thọ |
23 tuổi |
1 |
|
Thanh Hóa |
Trịnh Tuệ |
1736 |
Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. |
33 tuổi |
1 |
|
Nghệ An |
Bạch Liêu |
1266 |
Diễn Châu, Nghệ An |
|
1 |
|
Hà Tĩnh |
Đào Tiêu |
1275 |
Đức Thọ, Hà Tĩnh |
|
1 |
|
Quảng Bình |
Trương Xán |
1256 |
Quảng Trạch, Quảng Bình |
29 tuổi |
1 |
(Nguồn: Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến chương Loại chí)
Tổng hợp theo địa phương thì: Bắc Ninh có số Trạng nguyên nhiều nhất là 14 người, chiếm tỷ lệ 30,4%, sau đó đến Hải Phòng có 11, tỷ lệ 23,9%. Hà Nội có 8 người, tỷ lệ 17,4%; Hưng Yên có 5, tỷ lệ 10,8%; Ninh Bình có 3, tỷ lệ 6,5%; các tỉnh Phú Thọ, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Bình: mỗi nơi có 1 vị, tỷ lệ 2,2%.
Trong số 46 Trạng nguyên của Việt Nam, nhiều người đã để lại dấu ấn rực rỡ trong lịch sử dân tộc, đó là:
- Nguyễn Hiền, đỗ Trạng nguyên năm 1247, lúc đó mới 13 tuổi, trở thành biểu tượng của tài năng và nghị lực, được người đời ca ngợi là “Trạng nguyên trẻ nhất”.
- Mạc Đĩnh Chi, mặc dù là người có ngoại hình “xấu xí” nhưng ông được phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, không chỉ văn chương xuất chúng mà còn là nhà ngoại giao tài ba, đem trí tuệ Đại Việt so tài với Trung Hoa.
- Lương Thế Vinh (1441 – 1496), Trạng nguyên đời Lê Thánh Tông, nổi tiếng uyên bác cả văn lẫn toán, để lại nhiều công trình học thuật giá trị, đặc biệt là cuốn sách toán đầu tiên của Việt Nam là “Đại thành toán pháp”.
- Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1485): Đỗ Trạng nguyên khoa thi năm 1535, thời Mạc Đăng Doanh. Ông không chỉ là nhà chính trị, học giả mà còn là danh nhân văn hóa lớn của Việt Nam. Được tôn xưng là Trạng Trình, nổi tiếng với học thuyết triết lý, thơ ca, và những lời sấm ký có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sau. Ông không chỉ là Trạng nguyên, mà còn được xem như nhà tiên tri và bậc hiền triết trong dân gian, được đạo Cao Đài phong thánh. Cố Giáo sư Vũ Khiêu thì cho rằng: “ Bốn thế kỷ đã qua từ ngày Nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời, nhưng suốt bốn thế kỷ chưa lúc nào ngớt âm vang về con người kỳ diệu ấy”3.
Những gương mặt tiêu biểu nêu trên cho thấy danh hiệu Trạng nguyên không chỉ là vinh quang cá nhân, mà còn là minh chứng cho khát vọng vươn lên bằng con đường học vấn, góp phần hình thành một lớp trí thức tinh hoa phục vụ đất nước. Từ đó, hệ thống khoa cử và truyền thống tôn vinh Trạng nguyên trở thành một phần cốt lõi của văn hóa Việt Nam, đồng thời phản chiếu những điểm tương đồng và khác biệt so với các quốc gia cùng chia sẻ mô hình khoa cử trong khu vực.
Lời kết
Hệ thống khoa cử Việt Nam thời phong kiến với đỉnh cao là chế định thi Đình và danh hiệu Trạng nguyên, đã để lại một dấu ấn đặc sắc trong lịch sử dân tộc. Trải qua gần mười thế kỷ, khoa cử không chỉ là con đường tuyển chọn nhân tài cho bộ máy nhà nước, mà còn là biểu tượng của tinh thần hiếu học, khát vọng vươn lên bằng trí tuệ và đạo đức của người Việt. Danh vị Trạng nguyên và hệ thống khoa cử là một phần di sản tinh thần vô giá của dân tộc. Ngày nay, trong bối cảnh hiện đại, hệ thống khoa cử phong kiến không còn tồn tại, nhưng giá trị cốt lõi của nó – coi hiền tài là nguyên khí quốc gia – vẫn còn nguyên tính thời sự. Tinh thần học tập bền bỉ, khát vọng công hiến cho đất nước, cùng với việc xây dựng một nền giáo dục khai phóng, công bằng và sáng tạo, chính là sự tiếp nối xứng đáng truyền thống của cha ông. Nó vừa là minh chứng cho một xã hội trọng hiền tài trong lịch sử, vừa là nguồn cảm hứng để Việt Nam hôm nay tiếp tục xây dựng nền giáo dục khai phóng, thực hiện khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên mới của đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phạm Tất Dong (2022), Học tập và thi cử của người xưa (https://congdankhuyenhoc.vn/hoc-tap-va-thi-cu-cua-nguoi-xua-179220722142011581.htm)
Trần Thị Hoàng Mai (2024), Quê hương và thân thế Nguyễn Bỉnh Khiêm, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI
Nguyễn Quang Ngọc (2010), Khoa cử Nho học Việt Nam và vai trò trong lịch sử dân tộc, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội.
Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học
Nguyễn Thị Chân Quỳnh (2002), Các Trạng nguyên Việt Nam, Nxb. Văn hóa Thông tin.
Vusta (2006), 46 vị Trạng nguyên của Đại Việt ta (https://vusta.vn/46-vi-trang-nguyen-cua-dai-viet-ta-p82976.html)
Nguyễn Lâm Thị Hoài Phương và cộng sự (2022), Chế độ khoa cử thời hậu Lê và Joseon (https://www.studocu.vn/vn/document/truong-dai-hoc-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/truong-dai-hoc-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van/cdkcthlvj-nlthp-thdq-ltva-215-229/80665346)
Viện Khoa học và Xã hội, Viện sử (2007), Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến chương Loại chí, Nxb Giáo dục
1 Chế độ quý tộc thế tập (Kazoku - 華族 ) là các quý tộc cha truyền con nối ở Nhật Bản tồn tại từ năm 1869 đến năm 1947 (nguồn: Wikipedia)
2 Phan Ngọc (2002), Bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Văn học, trang 242
3 Trần Thị Hoàng Mai (2024), Quê hương và thân thế Nguyễn Bỉnh Khiêm, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học “ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm với lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI, trang 29.
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn