Những giai thoại về bà Nhữ Thị Thục - Thân mẫu của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Chủ nhật - 11/01/2026 20:58
Bà Nhữ Thị Thục (mẹ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) là một người phụ nữ hiếm gặp trong xã hội phong kiến Việt Nam. Bà là con gái của quan tiến sĩ, Thượng thư bộ Hộ (tương tự Bộ trưởng Kinh tế - xã hội thời nay) Nhữ Văn Lan triều vua Lê Thánh Tông. Không giống các tiểu thư khuê các lấy cầm kỳ, thi, họa làm đầu mà bà có chí khí khác thường, thậm chí vượt qua cả lễ giáo phong kiến để theo đuổi ước mơ, hoài bão của mình.
Những giai thoại về bà Nhữ Thị Thục - Thân mẫu của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm

Bà Nhữ Thị Thục (mẹ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm) là một người phụ nữ hiếm gặp trong xã hội phong kiến Việt Nam. Bà là con gái của quan tiến sĩ, Thượng thư bộ Hộ (tương tự Bộ trưởng Kinh tế - xã hội thời nay) Nhữ Văn Lan triều vua Lê Thánh Tông. Không giống các tiểu thư khuê các lấy cầm kỳ, thi, họa làm đầu mà bà có chí khí khác thường, thậm chí vượt qua cả lễ giáo phong kiến để theo đuổi ước mơ, hoài bão của mình.

Nhữ Thị Thục (còn gọi là Thục Nương) quê ở làng An Tử Hạ (sau là thôn Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng), nay thuộc xã Tân Minh, thành phố Hải Phòng.

Bà là người thông minh, quyết đoán, giỏi văn chương, kinh, sử, lại tinh thông cả dịch lý, tướng số, mang chí lớn của bậc trượng phu. Chính vì vậy mà bà rất kén chồng, khó chàng trai nào đáp ứng được tiêu chuẩn của Nhữ Thị Thục. Trong giai đoạn cha làm quan trên kinh đô, gia đình ở Thăng Long, chắc chắn không thiếu công tử con nhà quan lại, quyền quý muốn kết nghĩa phu thê với Nhữ Thị Thục nhưng không thành có lẽ bởi bà có ước vọng ít người dám nghĩ tới là tìm chồng có tướng đại quý để sinh ra con làm vua.

Cho đến năm 27 tuổi (sớm nhất) hoặc hơn (có sách nói là 30 tuổi) bà mới gá nghĩa với ông Nguyễn Văn Định - cha của Nguyễn Bỉnh Khiêm vì thấy ông có quý tướng. Nếu cho là bà lấy ông Định và sinh Nguyễn Bỉnh Khiêm cùng năm 1491 (Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ngày 13-5-1491), còn bà sinh năm 1464, thì lúc đó bà 27 tuổi. Cần phải biết rằng, thời phong kiến xưa có tục tảo hôn, quan niệm rằng con gái 13, con trai 16 tuổi là có thể dựng vợ gả chồng (nữ thập tam, nam thập lục) thì cái tuổi lấy chồng cùa bà Nhữ Thị Thục đã là muộn.

Truyện kể rằng, khi cụ Nhữ Đình Lan về quê trí sĩ, một lần Thục Nương đi chợ Hàn về qua gốc đa bến Vị thấy một anh thợ cày đang nằm ngủ ngon lành dưới gốc cây. Anh ta tướng mạo khôi ngô, vương trưởng dễ ưa, lại có dáng nằm thật đặc biệt: đầu gối lên bắp cày, hai tay chắp lên ngực như người cầm Hốt (vật bằng ngà mà các quan đại thần thường cầm trước ngực khi chầu Vua), hai chân gấp lại như người xấp bằng gậm. Tất cả dáng nằm tạo thành hình chữ Vương (Đế vương).

Thục Nương định nấn ná dò hỏi tên, tuổi người này nhưng thấy người ta đang ngủ, lại giữa trưa vắng vẻ, thân gái giữa đồng nên cảm thấy bất nhã lại thôi. Trưa hôm sau Thục Nương đến gốc đa, định bụng gặp người ấy để hỏi han thì thấy anh thợ cày đang nằm vắt chân chữ ngũ, miệng ngâm nga:

Văn chương phú lục chẳng hay

Trở về làng cũ học cày cho xong.

Nhìn dáng nằm, Thục Nương thấy phảng phất điều rất lạ trong con người này, song nghe khẩu khí thì rõ ràng kém ý chí.

Từ đó Nàng nhen nhóm ý định chọn kết duyên với anh thợ cày Nguyễn Văn Định có dáng “nằm chữ Ngũ, ngủ chữ Vương” này. Có điều nước da chàng trai lại hơi thô, đen nên chưa thật hoàn hảo để trở thành vương hầu, khanh tướng.

(Phỏng theo truyện “Nằm chữ Ngũ, ngủ chữ Vương” trong sách “Giai thoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm”/ Lương Cao Rính; Nxb. Hải Phòng, 2005. – Tr. 12-13).

Sau này khi đã lấy ông Định, sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm (lúc nhỏ tên Nguyễn Văn Đạt) thì một lần qua bến đò sông Văn Úc (ranh giới tự nhiên giữa huyện Tiên Minh - Tiên Lãng và huyện Nghi Dương - Kiến Thụy) Nhữ Thị Thục gặp một thanh niên đánh cá tướng mạo khỏe mạnh, hùng dũng, có tướng đại quý (Mạc Đăng Dung – người lập ra vương triều Mạc sau này) bà đã nuối tiếc cơ duyên mà mình bỏ lỡ. Chuyện chép:

“Thục Nương qua lối cửa Úc thì gặp người đàn ông khỏe đẹp đang kéo lưới, có tướng Quân Vương, nàng ngửa mặt lên trời than: “Xưa sao ta không gặp Lại có những giai thoại nói về cách dạy con nghiêm cẩn, hướng tới mục tiêu cao siêu của mẹ Trạng Trình như sau:

Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh lạ lùng. Năm đầy tuổi thôi nôi đã biết nói. “Năm con lên 4 tuổi, bà đã dạy cho học thuộc lòng các bài chính của Kinh, truyện cùng với mươi bài thơ Nôm. Có một hôm bà mẹ đi vắng, ông Văn Định nhân lúc rảnh rang, bồng con đi dạo thơ thẩn trước sân. Nhìn thấy ánh trăng, cao hứng ông ngâm lên: Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Cậu Đạt liền ứng khẩu đọc: Vén tay tiên, hốt hốt rung. Ngạc nhiên vì tài ứng đối giỏi của cậu con trai nên khi bà vợ về ông liền đem câu chuyện thuật lại. Bà mẹ của Bỉnh Khiêm đã không mừng thì chớ, lại trách chồng sao ưng mặt trăng là một khí tượng nhỏ, tượng trưng cho phận bầy tôi, sao sánh được với mặt trời, biểu hiện cho đấng Thiên Tử”.

(Trích: “Giai thoại và sấm ký Trạng Trình”/Phạm Đan Quế; Nxb. Thanh niên.- 2005, Tr. 38-39).

Cùng sự tích này thì có sách lại ghi không phải ông Văn Định bế con đêm trăng để sinh ra câu đối đáp ý nghĩa giữa hai bố con mà là ông và con đang chơi trò kéo cung ban ngày thì bà Thục về chứng kiến và trách chồng sao không dạy con khẩu khí đế vương.

Còn một giai thoại khác nói về sự bất đồng trong cách dạy con của cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Có lần ông Định mở cuốn sổ ghi các câu mà bà Thục hay dạy con ra thấy một câu: “Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng”. Sợ bị quy tội phản nghịch sẽ bị tru di ba họ, cha Nguyễn Bỉnh Khiêm bèn sửa lại là “ngày sau con lớn con vịn ngai vàng”. Khi trở về, biết chuyện mẹ trạng Trình giận lắm, bà bảo: Sinh con ra mong làm Vương, làm tướng chứ dạy con làm bầy tôi thì nói làm gì”.

(Nguồn:“Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ?”/Vũ Tiến Đức//website của Bảo tàng lịch sử Quốc gia: https://baotanglichsu.vn. Cập nhật ngày 07/08/2011)

Có lẽ những mâu thuẫn trong việc dạy con giữa hai vợ chồng lâu dần tích tụ, cộng với sự thất vọng của Nhữ Thị Thục về trí tiến thủ của chồng trên con đường khoa cử đã làm bà Nhữ Thị Thục chán nản bỏ nhà ra đi. Dân gian còn lưu truyền giai thoại rằng ông Nguyễn Văn Định vì thương con, nhớ vợ đã nhiều lần quảy quang gánh, một bên đựng muối đi rao bán, một bên đựng con để đi tìm vợ nhưng bà Thục đều tránh mặt (Nếu sự thực đúng như vậy thì phải nói bà mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm quả là người phụ nữ có lòng dạ sắt đá). Tuy nhiên đây cũng chỉ là truyền thuyết, thực hư không có chứng cứ xác đáng.

Nghe nói sau đó bà bỏ chồng, mang con về ở bên ông bà ngoại ở An Tử Hạ. Điều này thì đúng theo ghi chép trong gia phả họ Nguyễn - Nhữ thuộc nhánh hậu duệ người con trai thứ 7 của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng An Tử Hạ: “Phu nhân hồi An Tử Hạ, ỷ phụ thân giáo dưỡng Đạt nhi tam tuế”. (Tạm dịch: Phu nhân về làng An Tử Hạ, nhờ cha nuôi dạy cháu đời thứ ba là cậu bé Đạt)*. Từ đó cho thấy ông ngoại Nhữ Văn Lan của Trạng Trình cũng góp công không nhỏ trong việc nuôi, dạy Nguyễn Văn Đạt thủa ấu thơ.

Dân gian còn đồn rằng về sau bà Nhữ Thị Thục lưu lạc nhiều nơi, đã đi bước nữa với ông Phùng Quý Công ở thôn Phùng Xá, huyện Thạch Thất (Sơn Tây cũ) rồi sinh ra Phùng Khắc Khoan mà dân gian gọi là Trạng Bùng (bởi ông sinh ở làng Bùng) khi tuổi đã khá cao, (cũng như gọi Trạng Trình là do Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ở làng Trình Tuyền - tên cổ của làng Trung Am).

Cùng với truyền ngôn, cuốn gia phả họ Phùng ở Phùng Xá cũng ghi lại sự việc cha Phùng Khắc Khoan gặp mẹ ông như sau:

“Khi thân phụ Phùng Khắc Khoan ở Từ Sơn, có gặp một thiếu phụ từ Hải Dương đến, lông mày lá liễu, sắc mặt hơi buồn. Bà đi cùng đường với ông, được chừng một dặm, ông thấy bà nhàn rỗi như đi dạo, bèn trò chuyện, hỏi han.

Thấy ông có phúc tướng, bà mới bộc bạch nỗi lòng. Ông rơi lệ cảm động. Hai người kết nghĩa vợ chồng. Qua năm sau, sinh được con trai có tướng lạ, mới 5-6 tuổi mà đã có khí vũ của bậc trượng phu. Bà mừng rỡ bảo ông nên dạy cho nó học, nếu trời xanh không phụ, may gặp thời, phò được thiên hạ nghiêng đổ thì chí thiếp mãn nguyện”.

(Nguồn: “Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ?”/Vũ Tiến Đức//website của Bảo tàng lịch sử Quốc gia: https://baotanglichsu.vn. Cập nhật ngày 07/08/2011).

Theo truyền ngôn, người thiếu phụ Hải Dương ấy chính là Nhữ Thị Thục – mẹ Trạng Trình.

Ở đây có một sự gán ghép phi logic của dân gian khi cho Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình, cơ sở như sau:

Thứ nhất, Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn Phùng Khắc Khoan đến 37 tuổi (Trạng Trình sinh năm 1491; Phùng Khắc khoan sinh năm 1528) và là thầy dạy của Phùng Khắc Khoan. Nhữ Thị Thục sinh năm 1464, hơn Phùng Khắc Khoan 64 tuổi. Sự chênh lệch tuổi tác lớn như vậy cũng đã cho thấy Trạng Trình và Trạng Bùng khó có thể là cùng do bà Nhữ Thị Thục đẻ ra.

Thứ hai, mẹ cụ Trạng Trình đến tuổi 27 hoặc 30 mới lấy ông Định và có con. Bà ở với ông Văn Định đến khi Nguyễn Bỉnh Khiêm 4 tuổi thì bỏ chồng, con ra đi. Vậy lúc ra đi bà cũng đã khoảng 31 – 34 tuổi. Nếu cộng tuổi chênh lệch của 2 ông Trạng là 37 năm nữa thì khi sinh ra Phùng Khắc Khoan bà Thục đã ở tuổi 68 hoặc 71. Sinh con ở tuổi già như vậy là không thể về mặt khoa học.

Thời phong kiến phụ nữ được dạy dỗ “Tam tòng”1, “tứ đức”2 nên con gái nhà gia giáo không phải ai cũng cư xử trái luân thường, đạo lý, nhất là Thục Nương lại là con một gia đình quý tộc phong kiến được giáo dục cẩn thận. Vậy nên bà mẹ Trạng Trình khó có thể hành động như nhiều giai thoại không hay về bà, hơn nữa, các tài liệu nghiên cứu đến nay vẫn chưa thống nhất về tính xác thực của những giai thoại nêu trên. Chỉ có điều, có thể là bà Nhữ Thị Thục với biệt tài lý số của mình đã tiên đoán nhà Lê sơ sau 40 năm thịnh trị dưới thời Lê Thánh Tông sẽ đi vào suy tàn nên bà muốn dạy con trai học cách làm vua để có thể giành được ngôi báu về sau, điều này trái với ý muốn của ông Nguyễn Văn Định – một người bảo thủ theo quan niệm phong kiến truyền thống.

- Giai thoại thầy địa lý phương Bắc bái phục tài tiên liệu và khả năng đặt huyệt đất tốt của Trạng Trình.:

“Đồn rằng...Sau khi Trạng Trình mất, có thầy địa lý nổi tiếng ở Trung Quốc muốn xem thực, hư chuyện Trạng thế nào đã lặn lội sang tận mộ cụ. Đến nơi, thấy ngôi mộ đặt đúng vào huyệt đất tốt nhưng huyệt phát ở đằng chân mà mộ lại đặt ngược, ông thầy Tàu cho là Trạng Trình cũng chỉ có danh mà không có thực, mới tự đắc bảo: “Cái huyệt ở đàng chân sờ sờ thế kia mà không biết lại tự đem để mả thế này. Có thánh nhân cái gì đâu, hay là thánh nhân mắt mù đó”.

Con cháu cụ Trạng nghe thấy vậy liền khẩn khoản nhờ thầy đặt lại mộ cho. Ông thầy Tàu đồng ý và bảo: “Không cần phải đem đâu xa cả, chỉ cần đào lên rồi xoay lại quan tài và nhích lên một chút là được”. Y lời, con cháu cụ Trạng đào mộ lên, đến gần quan tài thì thấy có tấm bia. Ông thầy mới bảo rửa sạch đi để xem bia viết gì. Thì ra tấm bia có khắc một bài thơ: “Ngũ thập niên tiền mạch tại đầu/ Ngũ thập niên hậu mạch quy túc/ Hậu sinh nhĩ bối ná năng tri/ Hà vị thánh nhân vô nhỉ mục?” (Nghĩa là: Ngày nay mạch lộn xuống chân/Năm mươi năm trước mạch dâng đằng đầu/ Biết gì những kẻ sinh sau/ Thánh nhân mắt có mù đâu bao giờ?). Đọc xong tấm bia, ông thầy Tàu kinh hãi, toát cả mồ hôi hột, thì ra Trạng đã tiên liệu mọi việc”. (Trích “Giai thoại những lời sấm truyền của nhà tiên tri số 1 Việt Nam”//Báo Đời sống và pháp luật online - https://doisongphapluat.com.vn, cập nhật ngày 05/08/2014).

Trai, Kiến Thụy”. (trích chuyện “Lời than” trong sách “Giai thoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm”/ Lương Cao Rính; Nxb. Hải Phòng, 2005. – Tr.19)

Lại có tài liệu thì ghi rằng bà Nhữ Thị Thục gặp Mạc Đăng Dung ở Đồ Sơn, sách khác thì ghi bà gặp Mạc Đăng Dung ở bến đò Hàn (sông Tuyết xưa) - ranh giới giữa đất huyện Vĩnh lại (Vĩnh Bảo) và Tiên Minh (Tiên Lãng). Chuyện rằng:

“Sau khi đã lấy ông Văn Định, có lần qua bến đò Hàn thuộc sông Tuyết bà gặp một chàng thanh niên dáng khỏe mạnh, hùng dũng, bà nhìn người này và ngạc nhiên than rằng “lúc trước không gặp, ngày nay sao đến đây làm gì. Bọn theo hầu không hiểu lời bà, cầm roi toan đánh đuổi chàng thanh niên ấy. Bà cản lại và hỏi tên họ. Khi được biết, bà buồn rầu, hối hận đến cả mấy năm trời vì người thanh niên ấy chính là Mạc Đăng Dung – Thái tổ của nhà Mạc sau này”. (trích trong sách “Giai thoại và sấm ký Trạng Trình”/Phạm Đan Quế; Nxb. Thanh niên, 2005. - Tr.149)

Từ những chi tiết khác nhau trong các giai thoại cho thấy truyền thuyết dân gian không đồng nhất về địa điểm gặp nhau của 2 nhân vật, chứng tỏ rằng đó chỉ là những đồn thổi vô căn cứ mà ngườt ta gán ghép cho các nhân vật nhằm làm hấp dẫn truyền kỳ về họ. Vả lại, là con gái của gia đình quý tộc, được giáo dục theo khuôn mẫu phong kiến nghiêm cẩn lẽ nào bà Thục lại có thể có thái độ, lời nói thiếu khiêm nhường. Hơn nữa, sao bà có thể tự tin rằng chọn ai làm chồng thì cũng được người ta chấp nhận. Có lẽ những giai thoại nêu trên chỉ muốn chứng minh là Nhữ Thị Thục giỏi xem tướng, đoán hậu vận con người .

Cũng có thể bà mẹ Trạng Trình là người có tham vọng lớn lao, cộng với nhan sắc xinh đẹp, tài giỏi (chưa kể là con gái một gia đình danh gia vọng tộc mà bố là Thượng thư, anh trai Nhữ Đình Minh là tri huyện Lục Ngạn) nên bà mới tự tin vào khả năng chọn người kết duyên.

- Chuyện Thục Nương chọn giờ động phòng để mong sinh ra con trai làm vua:

Tương truyền, căn cứ tướng mạo của ông Nguyễn Văn Định, Thục Nương biết ông có thể sinh ra quý tử nên bà đã tính toán cẩn thận ngày giờ hợp cẩn để sinh ra Nguyễn Bỉnh Khiêm với mong muốn con mình sau này sẽ làm vua. Nhưng vì sự nóng vội của chồng mà tham vọng cao xa không thành. Giai thoại kể rằng:

“Hôm động phòng hoa chúc, bà cắm một chiếc đũa ở giữa sân và dặn ông Văn Định:

- Khi bóng trăng đến chiếc đũa ông mới được nhập phòng.

Đợi lâu quá, nóng ruột, ông Định đẩy cửa bước vào. Bà trách rằng:

- Ông vội vàng như thế thì sau này con cái chỉ làm đến Tứ trụ hay đỗ đến Trạng nguyên là cùng, chứ không thể làm Hoàng đế”

(Trích trong sách “Giai thoại và sấm ký Trạng Trình”/Phạm Đan Quế; Nxb. Thanh niên, 2005. – Tr. 38).

Cũng giai thoại trên, nhưng có tác giả khác lại chép giờ nhập phòng hoa chúc của ông bà không phải về đêm mà là ban ngày:

“...Cân nhắc mãi nàng mới quyết định cho chàng cưới, song yêu cầu phải theo đúng ý nàng là “nhập phòng đúng ngọ thời”.

- Tại sao phải nhập phòng đúng giờ ngọ?

- Vì nước da của chàng hơi thô nên chỉ đẻ ra Trạng, mà thiếp thì muốn lấy chồng đẻ ra Vua nên phải nhập phòng đúng giữa trưa mới mong khắc phục được nhược điểm trên, chàng vui lòng nhé.

- Làm thế nào để biết đúng giờ ngọ?. Văn Định khó chịu hỏi.

- Thiếp dựng cây đũa ở giữa sân, bao giờ đũa tròn bóng chàng mới được vào đấy, rõ không!”. Do sốt ruột, ông Định đã nhập phòng hơi sớm nên sau này chỉ đẻ ra con làm Trạng Nguyên.

(Chuyện “Ngọ thời” trong sách “Giai thoại Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm”/ Lương Cao Rính; Nxb. Hải Phòng, 2005. – Tr. 14-15).

Từ hai giờ nhập phòng khác nhau trong giai thoại trên, thiển nghĩ: người đầu thai ban đêm thì là chuyện thường tình vì nam – nữ hay giao hợp vào thời gian này, nhưng Trạng là người phi thường thì theo dân gian, giờ đầu thai cũng phải phi truyền thống, vậy nên có lẽ bố mẹ Trạng Trình động phòng vào giờ Ngọ có vẻ hợp lý hơn, bởi giờ Ngọ (11 giờ đến 13 giờ) trong tử vi tướng là khoảng thời gian dương khí mạnh nhất, khi mặt trời gần trái đất nhất, cho năng lượng mạnh mẽ.

Người sinh vào giờ này thường có tính cách nhiệt tình, thông minh, sôi nổi, có tài ăn nói và dễ thành công trong sự nghiệp.

Tương truyền, sau khi sinh Nguyễn Văn Đạt, một hôm bà đưa con về quê, dọc đường gặp một thầy tướng Trung Hoa. Sau khi liếc qua dung mạo Nguyễn Bỉnh Khiêm, thầy Tầu buột miệng khen: Tướng mạo của thằng bé này không phải tầm thường, nhưng vì nước da thô nên chỉ làm được Trạng Nguyên mà thôi. Bà nghe lời nói của thấy tướng không được vui. Bà nuôi hy vọng rất lớn nên quyết dạy dỗ con để sau này con bà có thể lên ngôi Thiên Tử.

Lại có giai thoại khác kể rằng thuở nhỏ, Nguyễn Bỉnh Khiêm khôi ngô, tuấn tú. Một lần khi đang tắm với lũ trẻ ở sông Hàn, một thầy tướng số người Tàu đi thuyền qua nói rằng “cậu này đáng lẽ tướng làm vua, nhưng vì nước da hơi thô nên chỉ làm đến Trạng Nguyên Tể Tướng”.

Từ những truyền ngôn không thống nhất hoàn cảnh và địa điểm xảy ra, sự việc thầy tướng Trung Quốc nhận xét nước da thô của Nguyễn Bỉnh Khiêm trên cho thấy giai thoại dân gian vẫn chỉ là sự thêu dệt. Nhân dân muốn khẳng định Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ có thể làm đến Trạng Nguyên Tể Tướng bởi trời đã định như vậy, dù bà mẹ đã cố gắng chọn chồng có quý tướng và chọn giờ sinh con để sau con mình có thể làm vua.

Lại có những giai thoại nói về cách dạy con nghiêm cẩn, hướng tới mục tiêu cao siêu của mẹ Trạng Trình là giúp con mình có thể làm vua:

Nguyễn Bỉnh Khiêm thông minh lạ lùng. Năm đầy tuổi thôi nôi đã biết nói. “Năm con lên 4 tuổi, bà đã dạy cho học thuộc lòng các bài chính của Kinh, truyện cùng với mươi bài thơ Nôm. Có một hôm bà mẹ đi vắng, ông Văn Định nhân lúc rảnh rang, bồng con đi dạo thơ thẩn trước sân. Nhìn thấy ánh trăng, cao hứng ông ngâm lên: Nguyệt treo cung, nguyệt treo cung. Cậu Đạt liền ứng khẩu đọc: Vén tay tiên, hốt hốt rung. Ngạc nhiên vì tài ứng đối giỏi của cậu con trai nên khi bà vợ về ông liền đem câu chuyện thuật lại. Bà mẹ của Bỉnh Khiêm đã không mừng thì chớ, lại trách chồng sao ưng mặt trăng là một khí tượng nhỏ, tượng trưng cho phận bầy tôi, sao sánh được với mặt trời, biểu hiện cho đấng Thiên Tử”.

(Trích: “Giai thoại và sấm ký Trạng Trình”/Phạm Đan Quế; Nxb. Thanh niên.- 2005, Tr. 38-39).

Cùng sự tích này thì có sách lại ghi không phải ông Văn Định bế con đêm trăng để sinh ra câu đối đáp ý nghĩa giữa hai bố con mà là ông và con đang chơi trò kéo cung ban ngày thì bà Thục về chứng kiến và trách chồng sao không dạy con khẩu khí đế vương.

Còn một giai thoại khác nói về sự bất đồng trong cách dạy con của cha mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm:

“Có lần ông Định mở cuốn sổ ghi các câu mà bà Thục hay dạy con ra thấy một câu: “Bống bống, bang bang, ngày sau con lớn con tựa ngai vàng”. Sợ bị quy tội phản nghịch sẽ bị tru di ba họ, cha Nguyễn Bỉnh Khiêm bèn sửa lại là “ngày sau con lớn con vịn ngai vàng”. Khi trở về, biết chuyện mẹ trạng Trình giận lắm, bà bảo: Sinh con ra mong làm Vương, làm tướng chứ dạy con làm bầy tôi thì nói làm gì”.

(Nguồn:“Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ?”/Vũ Tiến Đức//website của Bảo tàng lịch sử Quốc gia: https://baotanglichsu.vn. Cập nhật ngày 07/08/2011)

Có lẽ những mâu thuẫn trong việc dạy con giữa hai vợ chồng lâu dần tích tụ, cộng với sự thất vọng của Nhữ Thị Thục về trí tiến thủ của chồng trên con đường khoa cử đã làm bà Nhữ Thị Thục chán nản bỏ nhà ra đi. Dân gian còn lưu truyền giai thoại rằng ông Nguyễn Văn Định vì thương con, nhớ vợ đã nhiều lần quảy quang gánh, một bên đựng muối đi rao bán, một bên đựng con để đi tìm vợ nhưng bà Thục đều tránh mặt (Nếu sự thực đúng như vậy thì phải nói bà mẹ Nguyễn Bỉnh Khiêm quả là người phụ nữ có lòng dạ sắt đá). Tuy nhiên đây cũng chỉ là truyền thuyết, thực hư không có chứng cứ xác đáng.

Nghe nói sau đó bà bỏ chồng, mang con về ở bên ông bà ngoại ở An Tử Hạ. Điều này thì đúng theo như ghi chép trong gia phả họ Nguyễn - Nhữ thuộc nhánh hậu duệ người con trai thứ 7 của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở làng An Tử Hạ: “Phu nhân hồi An Tử Hạ, ỷ phụ thân giáo dưỡng Đạt nhi tam tuế”. (Tạm dịch: Phu nhân về làng An Tử Hạ, nhờ cha nuôi dạy cháu đời thứ ba là cậu bé Đạt). Từ đó cho thấy ông ngoại Nhữ Văn Lan của Trạng Trình cũng góp công không nhỏ trong việc nuôi, dạy Nguyễn Văn Đạt thủa ấu thơ.

Dân gian còn đồn rằng về sau bà Nhữ Thị Thục lưu lạc nhiều nơi, đã đi bước nữa với ông Phùng Quý Công ở thôn Phùng Xá, huyện Thạch Thất (Sơn Tây cũ) rồi sinh ra Phùng Khắc Khoan mà dân gian gọi là Trạng Bùng (bởi ông sinh ở làng Bùng) khi tuổi đã khá cao, (cũng như gọi Trạng Trình là do Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh ở làng Trình Tuyền - tên cổ của làng Trung Am).

Cùng với truyền ngôn, cuốn gia phả họ Phùng ở Phùng Xá cũng ghi lại sự việc cha Phùng Khắc Khoan gặp mẹ ông như sau:

“Khi thân phụ Phùng Khắc Khoan ở Từ Sơn, có gặp một thiếu phụ từ Hải Dương đến, lông mày lá liễu, sắc mặt hơi buồn. Bà đi cùng đường với ông, được chừng một dặm, ông thấy bà nhàn rỗi như đi dạo, bèn trò chuyện, hỏi han.

Thấy ông có phúc tướng, bà mới bộc bạch nỗi lòng. Ông rơi lệ cảm động. Hai người kết nghĩa vợ chồng. Qua năm sau, sinh được con trai có tướng lạ, mới 5-6 tuổi mà đã có khí vũ của bậc trượng phu. Bà mừng rỡ bảo ông nên dạy cho nó học, nếu trời xanh không phụ, may gặp thời, phò được thiên hạ nghiêng đổ thì chí thiếp mãn nguyện”.

(Nguồn: “Nguyễn Bỉnh Khiêm và Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ?”/Vũ Tiến Đức//website của Bảo tàng lịch sử Quốc gia: https://baotanglichsu.vn. Cập nhật ngày 07/08/2011).

Theo truyền ngôn, người thiếu phụ Hải Dương ấy chính là Nhữ Thị Thục – mẹ Trạng Trình.

Ở đây có một sự gán ghép phi logic của dân gian khi cho Phùng Khắc Khoan là anh em cùng mẹ khác cha với Trạng Trình, cơ sở như sau:

Thứ nhất, Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn Phùng Khắc Khoan đến 37 tuổi (Trạng Trình sinh năm 1491; Phùng Khắc khoan sinh năm 1528) và là thầy dạy của Phùng Khắc Khoan. Nhữ Thị Thục sinh năm 1464, hơn Phùng Khắc Khoan 64 tuổi. Sự chênh lệch tuổi tác lớn như vậy cũng đã cho thấy Trạng Trình và Trạng Bùng khó có thể là cùng do bà Nhữ Thị Thục đẻ ra.

Thứ hai, mẹ cụ Trạng Trình đến tuổi 27 hoặc 30 mới lấy ông Định và có con. Bà ở với ông Văn Định đến khi Nguyễn Bỉnh Khiêm 4 tuổi thì bỏ chồng, con ra đi. Vậy lúc ra đi bà cũng đã khoảng 31 – 34 tuổi. Nếu cộng tuổi chênh lệch của 2 ông Trạng là 37 năm nữa thì khi sinh ra Phùng Khắc Khoan bà Thục đã ở tuổi 68 hoặc 71. Sinh con ở tuổi già như vậy là không thể về mặt khoa học.

Thời phong kiến phụ nữ được dạy dỗ “Tam tòng”, “tứ đức” nên con gái nhà gia giáo không phải ai cũng cư xử trái luân thường, đạo lý, nhất là Thục Nương lại là con một gia đình quý tộc phong kiến được giáo dục cẩn thận. Vậy nên bà mẹ Trạng Trình khó có thể hành động như nhiều giai thoại không hay về bà, hơn nữa, các tài liệu nghiên cứu đến nay vẫn chưa thống nhất về tính xác thực của những giai thoại nêu trên. Chỉ có điều, có thể là bà Nhữ Thị Thục với biệt tài lý số của mình đã tiên đoán nhà Lê sơ sau 40 năm thịnh trị dưới thời Lê Thánh Tông sẽ đi vào suy tàn nên bà muốn dạy con trai học cách làm vua để có thể giành được ngôi báu về sau, điều này trái với ý muốn của ông Nguyễn Văn Định – một người bảo thủ theo quan niệm phong kiến truyền thống.

Những giai thoại lưu truyền trong nhân dân dù sao cũng chỉ là văn học dân gian. Mà trong văn học thì người ta có quyền hư cấu – một thủ pháp nghệ thuật để thần tượng hóa nhân vật. Tuy nhiên những giai thoại về người mẹ kỳ lạ của Trạng Trình cũng là nguồn tư liệu để chúng ta tham khảo nhằm hiểu thêm về bậc kỳ tài thế kỷ 16 là danh nhân văn hóa Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Phạm Văn Thi, Chi hội trưởng Chi hội VNDG Việt Nam tại Hải Phòng.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây