Quân đội Nhân dân Việt Nam - Quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng

Thứ sáu - 13/12/2024 23:35
Kể từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, Nhân dân ta phải một cổ hai tròng dưới ách thống trị, bóc lột của thực dân, phong kiến, cuộc sống vô cùng cực khổ, lầm tham. Nhiều cuộc khởi nghĩa, nh­iều phong trào yêu nước nổ ra như: Cần Vương, Tr­ương Công Định, Hoàng Hoa Thám, Bãi Sậy…nhưng đều bị thực dân Pháp dìm trong bể máu; nhiều nhà sỹ phu yêu n­ước ngày đêm trăn trở tìm con đư­ờng cứu dân, cứu nước... nhưng đều không thành công.
quan doi nhan dan viet nam quan doi anh dung cua mot dan toc anh hung 1
 
quan doi nhan dan viet nam quan doi anh dung cua mot dan toc anh hung 2

Đại tá, ThS Trần Quốc Huy

Nguyên Phó Trưởng phòng Khoa học Quân sự Quân khu 3;

Chủ tịch Chi hội Khoa học Lịch sử Quân sự Hải Phòng

 

Kể từ khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta, Nhân dân ta phải một cổ hai tròng dưới ách thống trị, bóc lột của thực dân, phong kiến, cuộc sống vô cùng cực khổ, lầm tham. Nhiều cuộc khởi nghĩa, nh­iều phong trào yêu nước nổ ra như: Cần Vương, Tr­ương Công Định, Hoàng Hoa Thám, Bãi Sậy…nhưng đều bị thực dân Pháp dìm trong bể máu; nhiều nhà sỹ phu yêu n­ước ngày đêm trăn trở tìm con đư­ờng cứu dân, cứu nước... nhưng đều không thành công.

Trong thời điểm lịch sử đã sinh ra một con người của lịch sử và chính con người đó đã làm rạng rỡ lịch sử của dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta, đó là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh. Do có sự chuẩn bị tích cực của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về chính trị, t­ư tưởng và tổ chức, ngày 3.2.1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã xác định đúng đắn con đ­ường cách mạng Việt Nam, trong đó đã đề cập tới việc “tổ chức ra quân đội công nông”. Luận cương chính trị tháng 10.1930 của Đảng cũng chỉ rõ nhiệm vụ: “vũ trang công nông”, “lập quân đội công nông”, “tổ chức đội tự vệ công nông”. Trong bão táp cách mạng những năm 1930-1931, lực lượng khởi nghĩa của công nông trong Xô viết Nghệ - Tĩnh ra đời "Tự vệ đỏ" - mần mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng. Trong cao trào đánh Pháp, đuổi Nhật (1940-1945), nhiều tổ chức vũ trang tập trung ra đời như: Du kích Bắc Sơn, Du kích Nam Kỳ, Du kích Ba Tơ, các trung đội cứu quốc quân và các đội du kích ở Cao – Bắc – Lạng...

Tháng 12.1944, Lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Trong chỉ thị, Người đã chỉ rõ: “Tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự...Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân, cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”. Người khẳng định: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”1.

Ngày 22.12.1944, thực hiện sự chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại khu rừng trên núi Dền Sinh, dãy Khâu Giáng nằm giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, đồng chí Võ Nguyên Giáp được Đảng và Lãnh tụ Hồ Chí Minh uỷ nhiệm tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam ngày nay. Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân lúc thành lập có 34 cán bộ, chiến sỹ, vũ khí có 34 khẩu súng các loại, biên chế thành 3 tiểu đội, do các đồng chí: Thu Sơn, Bế Văn Sắt và Xuân Trường làm Tiểu đội trưởng; đồng chí Hoàng Sâm (tức Trần Văn Kỳ) làm Đội trưởng; có 1 Chi bộ đảng, do đồng chí Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Dưới lá cờ đỏ sao vàng 5 cánh, toàn Đội đọc 10 lời thề danh dự. Buổi chiều, toàn đội ăn một bữa cơm nhạt thể hiện tinh thần chiến đấu gian khổ, hy sinh, quyết tâm giành thắng lợi mà Đảng và Nhân dân giao phó.

Sự ra đời và những hoạt động của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã thể hiện rõ: Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam nắm vững quan điểm bạo lực cách mạng của quần chúng Nhân dân để tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng giành độc lập dân tộc và bảo vệ Tổ quốc.

80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam cùng toàn dân đã vượt qua bao gian khổ, hy sinh, chiến đấu và giành những chiến công chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta ở Thế kỷ thứ 20. Cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã cùng toàn dân tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đưa nước ta vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy 5 châu, trấn động địa cầu, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ Nhân dân; tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; chiến đấu bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc; làm nhiệm vụ quốc tế cao cả giúp nước bạn Lào và Cam-pu-chia.

Kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22.12.1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta đã khái quát truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng2. Truyền thống của Quân đội Nhân dân Việt Nam được thể hiện ở những nội dung chính:

Một là, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn trung thành vô hạn với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân. 80 năm qua kể từ ngày thành lập đến nay, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn trung thành, phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng và dân tộc, đó là: “Thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của Nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”3. Mục tiêu đó là lẽ sống, phương châm hành động chiến đấu, phục vụ chiến đấu, xây dựng Quân đội của các cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Hai là, Quân đội Nhân dân Việt Nam vượt mọi gian khổ hy sinh, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Kể từ sau hai ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đã đánh thắng hai trận Phay Khắt và Nà Ngần, mở đầu truyền thống “quyết chiến, quyết thắng”, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam vượt qua nhiều gian khổ hy sinh, chiến đấu và giành nhiều chiến công vang dội trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế; ngày nay bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhân dân.

Ba là, cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Trong suốt 80 năm qua, cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam thường xuyên ra sức học tập nâng cao trình đội chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ, triệt để chấp hành chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, điều lệnh, điều lệ Quân đội, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật “tự giác và nghiêm minh”, tác phong chính quy, thực hiện “Kỷ luật là sức mạnh của Quân đội”, “Toàn quân một ý chí”.

Bốn là, Quân đội Nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân. Trong suốt 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, phát huy bản chất giai cấp công nhân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, cấp ủy, chỉ huy các cấp, cán bộ, chiến sỹ trong Quân đội đã thường xuyên quan hệ máu thịt với Nhân dân, gắn bó với Nhân dân: “Quân với dân như cá với nước”, “Đi dân nhớ, ở dân thương” coi đây là mạch sống, nguồn sức mạnh to lớn để Quân đội ta giành chiến thắng.

Năm là, Quân đội Nhân dân Việt Nam luôn có tình “yêu thương đồng chí đồng đội” . Lời thề thứ 7 trong 10 Lời thề danh dự của Quân đội Nhân dân Việt Nam ghi rõ: “Đoàn kết chặt chẽ với nhau như ruột thịt trên tình thương yêu giai cấp, hết lòng giúp đỡ lẫn nhau lúc thường cũng như lúc ra trận, thực hiện toàn quân một ý chí”. Truyền thống này phản ánh bản chất của một quân đội cách mạng, mang bản chất giai cấp công nhân. Lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sỹ trong Quân đội hết lòng yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, cùng nhau vượt qua những khó khăn thử thách để giành chiến thắng.

Sau là, Quân đội Nhân dân Việt Nam có tinh thần quốc tế cao cả trong sáng, thủy chung. Phát huy bản chất của quân đội cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh, cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam đã làm tròn nhiệm vụ quốc tế cao cả, trong sáng, thủy chung, giúp nhân dân các bộ tộc Lào giành thắng lợi, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi ách diệt chủng tàn ác Pôn-pốt – Iêng-xa-ri, đưa đất nước Chùa Tháp hồi sinh, chính nhân dân Cam-pu-chia đã gọi cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam là “Đội quân nhà Phật”. Ngày nay, cán bộ, chiến sỹ Quân đội Nhân dân Việt Nam đã và đang là lượng gìn giữ hòa bình tin cậy của Liên hiệp quốc.

Những chiến công chói lọi của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng mãi mãi ghi vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta ở Thế kỷ thứ 20. Những bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng mãi mãi là cội nguồn sức mạnh để Quân đội ta – Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu tiếp tục giành những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

 

1Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.507-508.

2Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.350.

3 Lời thề đầu tiên trong 10 Lời thề danh dự của Quân đội nhân dân Việt Nam.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây