Phật giáo Hải Phòng - Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX (1407 - 1801)

Thứ sáu - 09/10/2026 03:14
Năm 1407, nhà Minh xâm lược và đặt ách đô hộ nước ta. Mưu đồ lớn nhất của nhà Minh là đồng hóa và hủy diệt dân tộc, hủy diệt văn hóa Việt.
1. PHẬT GIÁO HẢI PHÒNG THỜI THUỘC MINH (1407-1427)
Năm 1407, nhà Minh xâm lược và đặt ách đô hộ nước ta. Mưu đồ lớn nhất của nhà Minh là đồng hóa và hủy diệt dân tộc, hủy diệt văn hóa Việt.
Trước lúc xuất quân, Minh Thành Tổ đã trực tiếp ra lệnh: “Khi tiến vào An Nam thì trừ những bản kinh sách về Thích, Đạo không hủy, còn tất cả các bản in sách, các giấy tờ cho đến sách học của trẻ con như loại “thượng, đại, nhân, khâu, ất, kỉ”, thì nhất thiết một mảnh giấy, một chữ đều phải hủy hết. Trong nước ấy, chỉ có những bia do Trung Quốc dựng lên ngày trước thì để lại, còn những bia do An Nam lập ra thì phải phá cho hết, một chữ cũng không được để lại”. 1
Tháng 8 năm 1418, triều đình nhà Minh lại cử người sang vơ vét những sách vở còn sót lại đem về Trung Quốc. Cuối năm 1426, Vương Thông cho phá chuông Quy Điền (chùa Một Cột, Hà Nội) và vạc Phổ Minh (Tức Mặc, tỉnh Nam Định) để lấy đồng đúc vũ khí. Chuông Quy Điền, Vạc chùa Phổ Minh, Tháp Báo Thiên (Hà Nội) và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) là bốn công trình tiêu biểu của nghệ thuật đúc đồng thời Lý - Trần, nổi tiếng là An Nam tứ đại khí. Nhiều công trình Phật giáo trên địa bàn Hải Phòng cũng bị tàn phá, đến thời Mạc và Lê Trung hưng mới được khôi phục. Điển hình là ngôi chùa lớn Vân Bản và tháp Tường Long ở Đồ Sơn, quần thể chùa chiền, đền thờ, miếu mạo ở khu Tràng Kênh - Bạch Đằng (huyện Thủy Nguyên), ở vùng đảo Cát Bà, Cát Hải... Tuy nhiên, qua thống kê, thời kỳ này, nhân dân một số địa phương vẫn dựng chùa: Ở Vĩnh Bảo có chùa Anh Linh (thôn Thượng Điện, xã Vinh Quang) dựng năm 1415...
Trong hai thập kỷ (1407-1427), dưới ách đô hộ tàn bạo của giặc Minh, nhiều nhà sư và Phật tử cùng toàn dân liên tiếp đứng lên khởi nghĩa. Năm 1419, ở miền đất Hải Phòng nổ ra cuộc khởi nghĩa do nhà sư Phạm Ngọc lãnh đạo. Sử nhà Minh chép vắn tắt: “Trần Thái Xung ở Đạo Hội, Phạm Ngọc ở Đồ Sơn đều tụ quân nổi dậy, Bân (Lý Bân, một tướng của giặc Minh) đánh bại cả”. Tuy sử chỉ chép quá ngắn ngủi như vậy, nhưng thực tế đây là một cuộc khởi nghĩa lớn, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhà sư Phạm Ngọc ở chùa Đồ Sơn, huyện An Lão (lúc đó có phần đất huyện Kiến Thụy, nay thuộc quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng), do quá căm phẫn với chính sách bạo tàn của giặc Minh, đã quyết chí chống lại. Để tăng thêm thanh thế cho cuộc khởi nghĩa, nhà sư đã truyền tin là trời trao cho ấn kiếm “Thế thiên hành đạo”, để xuống hạ giới diệt trừ kẻ ác, làm chủ thiên hạ. Phạm Ngọc tự xưng
______________
1 Dẫn theo GS.Trương Hữu Quýnh, GS. Đinh Xuân Lâm, PGS.Lê Mậu Hãn: Đại cương Lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.278.
là La Bình vương, đặt niên hiệu là Vĩnh Ninh, tập hợp quần chúng nổi dậy chống quân Minh. Cuộc khởi nghĩa, được dân chúng và Phật tử cả vùng Đông Bắc nhiệt liệt hưởng ứng, đã phát triển nhanh chóng. Nhiều thủ lĩnh nghĩa quân ở các vùng xung quanh như Đào Thừa, Phạm Thiện, Lê Hành, Ngô Trung... nghe tiếng đều đến tập hợp dưới cờ của La Bình vương Phạm Ngọc. Nghĩa quân chiếm cứ và kiểm soát được một vùng rộng lớn, làm chủ nhiều đường sông, đường bộ. Tướng nhà Minh là Tổng binh Lý Bân vội vàng từ Nghệ An đem đại binh về đàn áp cuộc khởi nghĩa. Được tin quân Lý Bân kéo đến, nghĩa quân chia làm hai đạo thủy, bộ nghênh chiến, nhưng do lực lượng quá chênh lệch, nghĩa quân chống cự không nổi, tướng Phạm Thiện, Ngô Trung bị giặc bắt. Các tướng Đào Thừa, Lê Hành thu thập quân sĩ kéo về Đa Cẩm (huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương) chống giữ. Lý Bân đem đại quân truy đuổi. Đào Thừa, Lê Hành đều sa vào tay giặc. Thủ lĩnh Phạm Ngọc rút quân về vùng núi Đông Triều tiếp tục cuộc kháng chiến.
Các cuộc vùng lên của nhân dân, trong đó có nhà sư Phạm Ngọc và đông đảo đồng bào Phật tử trên địa bàn Hải Phòng, đã góp phần to lớn vào cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc do Lê Lợi lãnh đạo.
2. PHẬT GIÁO HẢI PHÒNG THỜI LÊ SƠ (1428-1527)
Mùa Xuân năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng những người đồng chí chính thức dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn xưng là Bình Định vương kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng dưới cờ khởi nghĩa đánh giặc cứu nước. Sau 10 năm nằm gai nếm mật, ngày 16 tháng Chạp năm Đinh Mùi (1427), Vương Thông tướng chỉ huy đội quân xâm lược Minh đã phải tuyên thệ xin rút hết quân về nước. Đến ngày 3 tháng 1 năm Mậu Thân (1428), những bóng dáng cuối cùng của quân Minh đã bị quét sạch khỏi bờ cõi. Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Đô (Thăng Long), khôi phục tên nước Đại Việt, mở đầu triều đại nhà Hậu Lê (gồm thời Lê Sơ và Lê Trung hưng).
Song song với sự phát triển và hoàn thiện của thể chế chính trị ở thế kỷ XV, nhà nước Lê Sơ đã thực hiện hàng loạt chính sách ruộng đất, từng bước khẳng định sự thống trị của quan hệ sản xuất phong kiến.
Tháng 3 năm Mậu Thân (1428), vua Lê Thái Tổ chia cả nước thành 5 đạo (Nam đạo, Bắc đạo, Đông đạo, Tây đạo và Hải Tây đạo) và cho các phủ, huyện, lộ, trấn thuộc vào các đạo ấy.
Tháng 6 năm Bính Tuất, niên hiệu Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước thành 12 đạo thừa tuyên: Thanh Hóa, Nghệ An, Thuận Hóa, Thiên Trường, Nam Sách, Quốc Oai, Bắc Giang, An Bang, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và phủ Trung Đô. Đến tháng 3 năm Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469), vua Lê Thánh Tông tiếp tục định số phủ, huyện, châu cho 12 đạo thừa tuyên. Đại Việt thời Hậu Lê, nhà nước phong kiến chuyển dần sang hệ tư tưởng thống trị quan liêu Nho giáo. Ảnh hưởng của Phật giáo đối với chính quyền cai trị không còn thịnh như thời Lý-Trần. Năm 1429, vua Thái Tổ lệnh cho các nhà sư nếu như thông thạo kinh điển và đủ phẩm hạnh thì đến trình diện thi kiểm tra cho tiếp tục để tu hành, ai không thi đỗ thì bắt hoàn tục. Cho tới năm 1461, khi vua Thánh Tông lên ngôi, vị vua mang theo tư tưởng Nho học này đã ra lệnh cho các lô, phủ không được tự tiện xây chùa chiền và tô tượng Phật nhằm hạn chế bớt ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội lúc bấy giờ. Hơn nữa, trước đó, trong cuộc chiến tranh xâm lược, giặc Minh đã tàn phá khá nhiều chùa ở nước ta. Năm 1471, Lê Thánh Tông đặt Ty Tăng lục đặc trách Phật giáo.
Tuy vậy, về đời sống tinh thần và tâm linh thì Phật giáo vẫn còn sự ảnh hưởng đáng kể cả trong cung đình lẫn ngoài dân chúng. Vua Lê Thái Tông và Lê Nhân Tông đã làm lễ Phật để cầu mưa. Các quan đại thần như Lê Văn Linh, Lê Ngân rất sùng đạo Phật. Một điều đặc biệt trong thời gian này đó là tại khoa thi năm Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (năm 1502), vua Lê Hiến Tông đã ra đề thi về Phật giáo khiến những người dự thi đều bỡ ngỡ. Trong đề thi, ông đã ra hơn 100 câu hỏi rất cụ thể về các kiến thức Phật học. Lê Ích Mộc làm bài đối bàn về đạo Phật rất xuất sắc và đã đỗ Trạng nguyên khoa này. Vào những năm hạn hán kéo dài, triều đình nhà Lê vẫn cho dân chúng tổ chức lễ hội rước Phật tử chùa Pháp Vân (Bắc Ninh) về chùa Báo Thiên ở kinh đô Thăng Long để cầu đảo (cầu mưa) cho nông nghiệp. Cũng ở thời kỳ này nhiều ngôi chùa có được nhà nước và nhân dân trùng tu lớn như: chùa Báo Thiên trùng tu năm 1434; chùa Thiên Phúc (tức chùa Thầy) được trùng tu năm 1499; chùa Minh Độ và chùa Côn Sơn ở xứ Đông (nay là Hải Dương); chùa Nghi Tàm ở ngoại thành Thăng Long... đều được trùng tu năm 1490; chùa Thiên Trù ở Hương Sơn và chùa Vô Vi ở xứ Đoài (nay thuộc Hà Nội)....
Phật giáo không còn ở trong cung đình có vị trí then chốt nữa mà chuyển về các làng quê, gắn bó với dân chúng. Nho giáo được đề cao, đạo Phật chính thức suy thoái trong thời gian dài hàng trăm năm. Tuy nhiên, trong lúc Nho giáo hưng thịnh thì trong các tầng lớp nhân dân, kể cả trong cung đình và các gia đình đại Nho, Phật giáo vẫn giữ thế lực khá mạnh. Việc nhà vua, nhà chúa tôn thờ Thánh Hiền nhưng cũng lại xây chùa, dựng tháp, tế đàn chay là việc thường thấy. Nhiều tác phẩm văn học của nhà Nho mang tư tưởng Phật giáo.
Trên địa bàn Hải Phòng, nhiều chùa vẫn được xây dựng và tu bổ. Tiêu biểu là chùa Diên Phúc (làng Ráng, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên), chùa Linh Thanh (chùa Rách, xã Đồng Minh, huyện Vĩnh Bảo) dựng năm 1433, chùa Hoa Am (xã Cộng Hiền, huyện Vĩnh Bảo) dựng năm 1460, chùa Linh Ứng (Nhân Giả, xã Vinh Quang, huyện Vĩnh Bảo) dựng năm 1462, chùa Bảo Khánh (Nam Tử, xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng) dựng năm 1468, chùa Hàm Long (Lão Phong, xã Tân Phong, huyện Kiến Thụy) dựng năm 1495, chùa Hà Lâu (Đông Ninh, xã Tiên Minh, huyện Tiên Lãng), chùa Khánh Thiện (Nội Đơn, xã Tân Liên, huyện Vĩnh Bảo) tu bổ năm Đoan Khánh 3 (1507)... Chùa Đót Sơn (xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng) trở thành trung tâm Phật giáo tố hảo của xứ Đông, sầm uất suốt các triều đại Lý - Trần - Hậu Lê và Mạc sau đó. Trung tâm này đã “kích thích” nhu cầu học Phật pháp của nhân dân và dẫn đến sự ra đời hàng loạt chùa trong vùng. Chùa tiếp tục được tu bổ, mở rộng quy mô kiến trúc, bảo tháp và tượng Phật đồ sộ. Nội dung văn bia Hoàng đồ củng cố Chuyết Sơn tự Di Đà Phật bi, dựng năm 1491, niên hiệu Hồng Đức 22, triều vua Lê Thánh Tông, đã chứng minh trong điều kiện khó khăn của thời Lê sơ, Phật giáo xứ Đông vẫn có sự phát triển.

3. PHẬT GIÁO HẢI PHÒNG THỜI MẠC (1527-1592)
Ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi (1527), Thái phó Nhân quốc công Mạc Đăng Dung, người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (Kiến Thụy, Hải Phòng), ép vua Lê Cung Hoàng nhường ngôi, tự lên làm vua, lập ra triều Mạc, dựng Dương Kinh làm kinh đô.
Năm 1533, cựu thần Nguyễn Kim tập hợp lực lượng lập ra triều đình nhà Lê ở vùng Thanh - Nghệ chống lại nhà Mạc. Đất nước chia thành Nam triều và Bắc triều. Chiến tranh kéo dài hơn sáu mươi năm.
Năm 1592, nhà Lê nhờ có Trịnh Tùng giúp sức, đánh bại nhà Mạc, chiếm lại kinh thành Thăng Long.
Nhà Mạc, với tư cách là một nhà nước Trung ương, tồn tại 65 năm, sau đó, con cháu rút lên Cao Bằng, còn kéo dài đến 96 năm nữa mới mất hẳn (1688).1
Dưới thời Mạc, cùng với các tôn thất, trí thức lớn, tiêu biểu là Trạng nguyên Lê Ích Mộc, Trạng nguyên Trần Tất Văn, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm... là những vị có công lớn góp phần trong trong việc chấn hưng Phật giáo, dựng chùa, tạo tượng.
Trạng nguyên Lê Ích Mộc, người xuất gia tu hành duy nhất đỗ Trạng nguyên.
Theo Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đế, thế kỷ XVIII, thì trước khi đi thi Nho học, Lê Ích Mộc ở chùa học hỏi kinh Phật. Sách Đại Việt đỉnh nguyên Phật lục ca ngợi tài học của Lê Ích Mộc: “Tam Đông túc học chí Kim cương”, nghĩa là ba năm tu học đã thấu triệt được tinh thần của kinh Kim Cương.
Trong bài văn thi Đình, kỳ thi lấy Lê Ích Mộc đỗ Trạng nguyên, đề bài (nhân danh vua hỏi) tập trung vào hỏi các giáo lý Phật giáo: “Phật pháp quảng đại, vậy thì họ tên ông bà cha mẹ anh em cô dì chị em của đức Phật có thể chỉ ra được không? Bậc muôn ánh hào quang chiếu rọi thân người sinh được mấy người? Người con nào hóa sinh thành Phật? Phật A Di đà sinh được mấy người? Người nào chứng thành Phật đạo? Đức Phật Thích Ca quả thật có mẹ không? Tại sao khi xuất thai phải mổ nách trái mà chuyển sinh?”... Cho đến những câu hỏi liên quan đến lịch sử Phật giáo Đại Việt: “Ngài Điều Ngự, Huyền Quang truyền bá đạo gì mà trở thành Phật tổ? Không Lộ, Giác Hải, Minh Không, Đạo Hạnh tu học phép gì mà bay được lên không trung, đi được trên mặt nước?”. Lê Ích Mộc đã trả lời tất cả câu hỏi trên và được vua Lê Hiến Tông nhận xét: “Bài văn của Lê Ích Mộc hơn hẳn mấy tầm so với bạn đồng khoa, trầm rất hài lòng duyệt cho người ấy xứng bậc khôi nguyên”2.
______________
1 5 vị vua nhà Mạc gồm: Mạc Đăng Dung (1527-1529), niên hiệu Minh Đức: Mạc Đăng Doanh (1530-1540), niên hiệu Đại Chính; Mạc Phúc Hải (1541-1546), niên hiệu Quảng Hòa; Mạc Phúc Nguyên (1547-1561), niên hiệu Vĩnh Định (1547), Cảnh Lịch (1548 - 1553), Quang Bảo (1554-1561); Mạc Mậu Hợp (1562-1592), niên hiệu Thuần Phúc (1562-1565), Sùng Khang (1566-1577), Diên Thành (1578-1585), Đoan Thái (1586. 1587), Hưng Trị (1588-1590), Hồng Ninh (1591-1592).
2 Bản lưu tại Viện Hán Nôm, Hà Nội, ký hiệu A.44, dân lại theo Mai Xuân Hải (1997), Đôi nét về bài đối văn thì đình trả lời về Phật Pháp của Trạng nguyên Lê Ích Mộc. tại Hội nghị kỷ niệm Lê Ích Mộc tại huyện Thủy Nguyên.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua xem xong, cho bọn Lê Ích Mộc, người xã Thanh Lãng, huyện Thủy Đường, khi trước làm đạo sĩ, đến khi đỗ, vua sai tuyên đọc lời chế thư, bưng lư đốt hương ra trước, bỏng tuột cả tay mà không biết”. 1
Sau khi treo án, từ quan, ông về quê làng Ráng (Thanh Lãng, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên) tiếp tục nghiên cứu, phổ biến Phật giáo, dựng chùa, mở trường dạy học, vận động dân chúng khai hoang mở mang đồng đất, trồng lúa, trồng rừng... Ông bỏ tiền của tu sửa lại ngôi chùa Diên Phúc (Ráng). Qua tên chùa Diên Phúc, ông muốn ghi nhớ về nhân duyên, phúc trạch mà “Phật đã ban” cho trong nghiệp thi cử, đồng thời là lời cầu mong duyên phúc cho mọi người, mọi nhà. Ông cho xây dựng ba ngôi chùa lớn, trong đó, có chùa Đông Linh (Lốt); đưa đạo Phật vào dạy học, cho chép, phổ biến kinh Phật, khuyên mọi người sống theo những điều Phật khuyên dạy. Lê Ích Mộc nổi tiếng là thầy giáo tận tụy với nghề và thương yêu học trò. Ông đã hết lòng dạy dỗ, uốn nắn từng nét chữ, sửa từng câu văn. Nhiều sĩ tử trong vùng vẫn thường lui tới trường để nghe Lê Ích Mộc bình văn. Trường học bên chùa Diên Phúc làng Ráng trở thành trung tâm học thuật và Phật giáo, chữa bệnh cho dân chúng của cả vùng. Ngài còn tổ chức dân khai phá vùng đất ven sông, cấy lúa, trồng khoai, trồng rừng trên đồi (rừng lim quan Trạng). Trong số trò giỏi, có ba người đã đỗ Giám sinh Quốc Tử Giám, noi gương thấy, đã từ bỏ con đường quan lại, trở về quê cùng chiêu mộ dân xiêu tán khai khẩn đất hoang hóa, lập làng Quảng Cư. Để ghi nhớ công ơn, sau khi Trạng nguyên Lê Ích Mộc mất, nhân dân Thanh Lãng và Quỳnh Cư đều lập đền thờ Ngài làm Phúc thần. Hiện nay, làng Thanh Lãng giữ tấm bia đá 2 mặt, khổ 0,84 cm x 0,59 cm, có 36 dòng chữ Hán khoảng 600 chữ, có hoa văn, không có chữ húy, chạm rồng và hoa lá, ghi việc năm Giáp Thìn (1664) các sãi vãi cùng các thiện nam tín nữ quyên góp tiền của trùng tu chùa Diên Phúc đến năm Ất Tỵ thì hoàn thành, có bài minh và họ tên những người đóng góp. Chuông chùa Diên Phúc (cao 0,90m, đường kính miệng 0,45m), đúc năm 1795, ghi “Diên Phúc tự chung”.
Trạng nguyên Trần Tất Văn, người làng Nguyệt Áng, tổng Đại Hoàng (nay là thôn Nguyệt Áng, xã Thái Sơn, huyện An Lão), không rõ năm sinh năm mất. Ông đỗ Trạng nguyên tại khoa thi năm Bính Tuất (1526), niên hiệu Thống Nguyên đời Lê Cung Hoàng, làm quan cho nhà Mạc đến chức Thượng thư, tước Hàn Xuyên Bá. Con ông là Trần Tảo đỗ Tiến sĩ khoa thi năm Ất Mùi (1565) đời Mạc Mục Tông. Cha con ông đã có nhiều công của cùng dân chúng xây dựng, tu bổ nhiều chùa tháp ở vùng An Lão.
Từ đầu thế kỷ XVI, thế lực nhà Lê ngày càng suy giảm. Dân chúng nổi dậy khắp nơi. Xã hội rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tình hình đó đã dẫn đến Đại Việt lâm vào thời kỳ bất ổn kéo dài.
Ruộng đất vẫn là cơ sở kinh tế quan trọng dưới triều Mạc. Do chiến tranh liên miên, nhiều vùng đất rộng lớn không do nhà Mạc quản lý, nhưng nhà Mạc vẫn thực thi chính sách ruộng đất trong vùng nhà Mạc cai quản khá chặt chẽ và chú trọng tới các đối tượng hoàng tộc, quan lại và binh lính.
______________
1 Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Thời Đại, 2011, tr.752

Ruộng đất vẫn là cơ sở kinh tế quan trọng dưới triều Mạc. Do chiến tranh liên miên, nhiều vùng đất rộng lớn không do nhà Mạc quản lý, nhưng nhà Mạc vẫn thực thi chính sách ruộng đất trong vùng nhà Mạc cai quản khá chặt chẽ và chú trọng tới các đối tượng hoàng tộc, quan lại và binh lính.
- Đất của hoàng tộc, quan lại và binh lính:
Những người trong hoàng tộc hoặc thân thích, quan lại đều được cấp ruộng. Trong nhiều bia ký tại các chùa thời Mạc ở Hải Phòng còn ghi rõ việc các bà hoàng, công chúa, quan lại đã dùng ruộng được chia và mua thêm để cúng tiến vào các chùa: Hòa Liễu, Bảo Quang, Bà Đanh ở Hải Phòng, Linh Tiên quán ở Hoài Đức (Hà Nội)...
Do chiến tranh, binh lính khá đông, nhà Mạc thực hiện chế độ “binh điền”. Nội dung chính của chế độ binh điền: “Xã nào ngoài số ruộng đất tư mà có ruộng quan và ruộng chùa, mà tùy theo số đó mà chiếu cấp: hạng nhất Trung hiệu mỗi người hai phần rưỡi, hạng nhất Trung sĩ mỗi người hai phần rưỡi. Xã nào không có ruộng thì mỗi người một phần. Như xã nào tùy số ruộng nhiều được 2 phân, thì 2 phần ấy cũng không được quá 2 mẫu, rồi tùy theo cấp bậc giảm dần, còn bao nhiêu ruộng sẽ theo nhân số trong xã mà chia đồng đều... Vậy xin cho quan tướng bản doanh, ra lệnh cho các quan bản huyện lấy công tâm lựa chọn bào cử người nào tinh tráng khỏe mạnh và thiện chiến, làm hạng nhất, chia loại, lấy thực số làm thành số cấp điền... rồi đem ruộng nhất đẳng cấp cho hạng này trước để khuyến khích tướng sĩ...”.1
- Ruộng kế nghiệp và tự điền:
Triều Mạc cũng chú ý đến việc ban ruộng thế nghiệp và tự điền cho những người có công với triều đình. Như trường hợp Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi mất, được ban 100 mẫu ruộng thờ; Lê Quang Bí sau khi đi sứ ở nhà Minh bị bắt giữ 18 năm, sau khi về và mất được ban 50 mẫu ruộng thế điền, ruộng tế 80 mẫu, ruộng thủ mộ 2 - 3 khoảnh. Những văn bia ở vùng Hải Phòng còn ghi rõ việc Hoàng thái hậu họ Vũ, các quan lại trong hoàng tộc đã mua một phần ruộng thế nghiệp của các quan lại có công với triều đình để cúng tiến vào chùa.
- Ruộng đất tư:
Dưới triều Lê Sơ ruộng đất tư đã khá phát triển. Trong hơn 2 thập kỷ tranh giành quyền lực đầu thế kỷ XVI giữa các thế lực phong kiến đã tạo thuận lợi cho tình trạng chiếm ruộng đất công thành ruộng đất tư. Triều Mạc cũng không ngăn chặn, trái lại còn có những biện pháp để khuyến khích ruộng đất tư phát triển. Trong chế độ “quân điền” chia theo khẩu phần không quá 2 mẫu, nhưng ở làng xã ít ruộng thì nhà Mạc cũng không huy động ruộng đất tư để chia cho binh lính mà chỉ chia theo số ruộng công của làng xã hiện có. Trong các bia ký ở Hải Phòng cho biết, Thái hoàng Thái hậu họ Vũ là người mua lại ruộng đất tư để cung tiến cho các chùa nhiều nhất cũng chưa quá 40 mẫu, còn lại các hoàng thân quốc thích khác chỉ từ 10 mẫu trở xuống, nhiều nông dân cúng tiến ruộng cho chùa chỉ 2-3 sào.
______________
1 Lê Quý Đôn: Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa Thông tin, 2007, tr.319-350.


- Ruộng chùa:
Dưới thời Mạc, ruộng chùa tồn tại khá phổ biến và có xu hướng phát triển nhanh. Sau một thời gian dài thời Lê sơ, Nho giáo phát triển cực thịnh, Phật giáo bị thu hẹp, đến thời Mạc, Phật giáo lại được hưng thịnh. Nhiều chùa đã được tu sửa. Các bia ký ở Hải Phòng cho biết rất nhiều chùa đã được xây dựng, sửa lại và mở rộng về qui mô như các chùa Thiên Phúc (Hòa Liễu, xã Thuận Thiên), Thiên Phúc (Trà Phương, xã Thụy Hương) và Đại Linh (Đại Trà, Đông Phương) huyện Kiến Thụy; Bạch Đa, Bảo Quang (Đồng Quan, xã Dũng Tiến) và Song Mai (Trung Am, xã Lý Học), huyện Vĩnh Bảo...
Theo chế độ binh điền nhà Mạc, có nơi trưng dụng ruộng chùa để chia cho binh lính, nhưng dù sao ruộng chùa vẫn là loại ruộng theo hình thức sở hữu tư nhân do chùa quản lý. Ruộng chùa với số lượng diện tích khác nhau, được chia cho một bộ phận dân làng canh tác để thu hoa lợi cho chùa sử dụng vào việc tuần, tiết, tế tự.
Nhà Mạc xuất thân từ tầng lớp bình dân, nên rất chú ý đến nông nghiệp. Mạc Đăng Dung, Mạc Đăng Doanh đã có những chính sách về nông nghiệp cũng như công thương cởi mở hơn thời Lê Sơ. Chính sách trị thủy, khẩn hoang đã góp phần làm cho đời sống nông dân ổn định, mùa màng được bội thu. Các sử thần thời Lê - Trịnh, dù không ưa nhà Mạc, nhưng cũng phải thừa nhận: “... những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mấy năm trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng kiếm điểm mà thôi. Mấy năm liền được mùa, nhân dân 4 trấn đều yên ổn...” Đại Việt sử ký toàn thư cũng phải khẳng định: “Trong khoảng vài năm, đường sá không nhặt của rơi, cống ngoài không đóng, thường được mùa to, trong cõi tạm yên”. 
Sau năm 1545, khi thế lực của Nam triều đã lớn mạnh, các cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều thường liên tiếp xảy ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân dân.
Nhà Mạc tuy để cao Nho giáo nhưng không hạn chế tư tưởng phi Nho giáo nên Phật giáo bắt đầu có chiều hướng phục hưng.
Trong phạm vi cương vực kiểm soát của nhà Mạc, do sự hủy hoại của chiến tranh do quân xâm lược nhà Minh cùng sự lãng quên của triều nhà Lê Sơ, thế kỷ XV, hàng loạt chùa chiến, đình, quán được xây dựng mới và tu bó. Giai đoạn này đã để lại cho hậu thế nhiều di sản Phật giáo đặc sắc. Trong hơn hai trăm công trình kiến trúc được xây dựng, tu bổ, tôn tạo dưới triều Mạc thì chùa chiếm trên 72%. Văn bia cho thấy các chùa thời Mạc không phải do triều đình xây dựng, tu bổ và trùng tu mà phần lớn là do dân chúng trong làng xã tự nguyện quyên góp, trong đó, chính yếu là sự đóng góp của thương nhân, điền chủ, thợ thủ công, quan lại và quí tộc, hoàng thân họ Mạc. Một số chùa tiêu biểu:
- Huyện Kiến Thụy: Chùa Thiên Phúc (Trà Phương) nguyên gốc là chùa Bà Đanh tương truyền xây từ thời Lý, đến thời Mạc được xây dựng lại với qui mô to lớn. Hiện nay còn ba chân tảng đá hoa sen có kích thước (0,74m x 0,74m; 0,76m x 0,76m; 0,82m x 0,82m) và nhiều phiến đá bó tường nến chùa, lan can thành bậc, bệ tượng... bi ký có nội dung ghi Thái hoàng Thái hậu họ Vũ và các bà Hoàng, bà Chúa cung tiến việc sửa chữa chùa năm 1562.

Chùa Thiên Phúc (Hòa Liễu) và đền thờ bà Thái hoàng Thái hậu họ Vũ với nhiều di vật thời Mạc, gồm tượng Phật, tượng bà Hoàng thái hậu, lan can thành bậc, bi ký ghi rõ bà Thái hoàng thái hậu họ Vũ và các quan trong hoàng tộc góp tiền, góp ruộng dựng chùa, tạc tượng, bia dựng năm 1562. Chùa Phổ Chiếu (chùa Văn Hoà) thuộc xã Hữu Bằng có bia dựng năm 1579. Chùa Bạch Đa thôn Phúc Hải, xã Đa Phúc có tượng với niên đại 1580. Chùa Đại Linh thôn Đại Trà, xã Đông Phương có niên đại 1578. Chùa Nhân Trai thuộc thôn Nhân Trai xã Đại Hà còn nhiều di vật thời Mạc. Đặc biệt là có sáu chiếc lan can thành bậc, tượng chân dung, bộ tượng Tam Thế và có bia ghi rõ năm dựng là 1590.
- Huyện Thủy Nguyên: Chùa Bảo Phúc thuộc thôn Câu Tử Ngoại xã Hợp Thành là ngôi chùa được làm mới dưới thời Mạc Phúc Hải, niên hiệu Quảng Hoà thứ 4 (1544). Chùa Kiến Linh xã Phục Lễ, dựng năm 1563. Chùa Bảo Ninh xã Tam Hưng, sửa chữa và xây dựng trong những năm 1562 - 1565 niên hiệu Thuần Phúc. Chùa Lã Tiên (chùa Lôi Động), xã Hoàng Động có tượng vương thời Mạc.
- Huyện Vĩnh Bảo: Chùa Bảo Quang thôn Đồng Quang, xã Dũng Tiến, huyện Vĩnh Bảo có niên đại 1578.
Huyện Tiên Lãng: Chùa Minh Phúc thôn Minh Thị, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng sửa chữa năm Sùng khang thứ 7 (1572). Chùa Bảo Khánh xã Kiến Thiết có bia dựng năm 1589.
- Huyện An Lão: Chùa Bách Phương (Hoa Tân) ở xã An Thắng có qui mô to lớn được dựng năm 1582. Chùa Linh Sơn xã Áng Sơn, An Lão có bia dựng năm 1583. Chùa Trúc Am còn hai pho tượng thời Mạc.
- Quận Hải An: Chùa Hưng Khánh (chùa Trung Hành) thuộc thôn Trung Hành, xã Đằng Lâm, An Dương (nay là phường Đằng Lâm) có tượng, bệ thờ, bi ký ghi rõ năm dựng bia là 1583.
- Huyện An Dương: Chùa Chiêu Tường xã An Hưng còn nhiều pho tượng Phật và tượng chân dung có phong cách thời Mạc.
Việc công đức vào chùa Phật được coi là việc phúc đức, tham gia xây dựng, tu bổ chùa là công việc của tất cả mọi người. Chùa gắn liền với làng nên trước hết được sự chăm lo của dân làng, nhất là những người xa quê hương, lại hiển danh và có điều kiện kinh tế. Tư liệu văn bia cho biết các thành viên trong Hoàng tộc nhà Mạc tham gia xây dựng và tu sửa hàng loạt ngôi chùa, nhất là ở Dương Kinh - vùng đất phát tích của vương triều Mạc. Năm 1562, tham gia xây dựng chùa Thiên Phúc (huyện Kiến Thụy) có 33 thành viên trong Hoàng tộc. Năm sau, chùa Bà Đanh (huyện Kiến Thụy) cũng được các vị quí tộc trên cúng tiền làm cửu Tam bảo, mỗi người từ 1 đến 10 lượng bạc. Việc công đức cho chùa không chỉ có quí tộc, quan lại mà còn cả đương kim Hoàng thượng. Năm 1582, vua Mạc Mậu Hợp cúng 20 lượng bạc vào chùa Hoa Tân. Trong số quí tộc, bà Thái hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn công đức cho nhiều chùa, với số tiền bạc, ruộng đất nhiều nhất. Bà đã cúng trên dưới 30 mẫu ruộng và 6.000 lá vàng cùng nhiều bạc, tiến cho trên chục ngôi chùa ở khu vực Dương Kinh và vùng lân cận: Chùa Thiên Phúc (Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) năm 1562, chùa Thiên Phúc (Hòa Liễu, xã Thuận Thiên, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) năm 1563.

Chùa Thiên Hựu (huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) năm 1571, chùa Minh Phúc (xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) năm 1572, chùa Bảo Phúc (huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Ninh) năm 1572, chùa Sùng Ân (huyện Phủ Cừ, tỉnh Hưng Yên) năm 1574, chùa Linh Cảm (huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh) năm 1577, chùa Sùng Quang (xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng) năm 1578, chùa Phổ Chiếu (xã Hữu Bằng, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) năm 1579, chùa Thánh Thọ (huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương) năm 1579, chùa Minh Quang (huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương) năm 1579, chùa Hoa Tân (xã Trường Thọ, huyện An Lão, Hải Phòng) năm 1582, chùa Linh Sơn (xã Trường Thành, huyện An Lão, Hải Phòng) năm 1583, chùa Báo Ân (huyện Phủ Cừ, tỉnh Hưng Yên) năm 1584, chùa Trúc Am (xã Du Lễ, huyện Kiến Thụy, Hải Phòng) năm 1589, chùa Hà Lâu (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) năm 1589.
Thái hoàng Thái hậu họ Vũ là một người dốc toàn tâm toàn ý cho công cuộc chấn hưng chùa Phật, được dân gian tôn là là “Mẫu nghi thiên hạ”, “Vị Phật sống trên trần gian”. Vì lẽ đó, Bà đã được dân làng nhiều nơi tạc tượng thờ, hiện còn thấy ở chùa Minh Phúc (Minh Thị, xã Toàn Thắng, huyện Tiên Lãng) và chùa Thiên Phúc (Trà Phương, xã Thụy Hương, huyện Kiến Thụy) Hải Phòng.
Ngoài ra, còn nhiều quý tộc khác, đặc biệt là vợ chồng Thái bảo Đà Quận công Mạc Ngọc Liễn và Phúc Thành Thái trưởng công chúa tham gia xây dựng hàng chục ngôi chùa và trở thành tín đồ của đạo Phật, với tên hiệu là Đức Quang (Mạc Ngọc Liễn) và Từ Đức (Phúc Thành Thái trưởng công chúa). Bia chùa Hà Lâu (huyện Tiên Lãng) dựng năm Hưng Trị thứ 2 (1589) nói về năm Ất Mùi (1535), Tỷ khiêu Tăng hiệu Diệu Trí cùng một số hội chủ và Thái hoàng Thái hậu họ Vũ, Hoàng hậu họ Bùi nhà Mạc hưng công tu sửa Hậu đường, Hành lang, dựng Tam quan. Chùa Sùng Quang (xã Đoàn Lập, huyện Tiên Lãng), đời Mạc Mục Tông, được nhân dân cùng vị Tiến sĩ và Quận công đương triều tu bổ. Cùng đó, hàng loạt chùa chiền do dân quyên góp xây dựng, tu bổ: chùa Kiến Linh (xã Phục Lễ, huyện Thủy Nguyên) tu bổ năm 1563, chùa Bảo Phúc (xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên) tu bổ các năm 1543, 1563, chùa Thọ Ninh (xã Tam Hưng, huyện Thủy Nguyên) tu bổ năm 1562, chùa Minh Tường (xã Tân Dương, huyện Thủy Nguyên) tu bổ năm 1578, chùa Cổ Giả (xã Gia Đức, huyện Thủy Nguyên), chùa Cổ Lôi (xã Thủy Triều, huyện Thủy Nguyên)...
Trên địa bàn Hải Phòng còn lưu giữ được khá nhiều bia chùa thời Mạc:
Huyện Kiến Thụy có các chùa Cối Sơn (xã Đại Lộc), chùa Thiên Phúc (Hòa Liễu, xã Thuận Thiên), chùa Thiên Phúc (chùa Bà Đanh, làng Trà Phương, xã Thụy Hương), chùa Phổ Chiếu (Văn Hòa, xã Hữu Bằng), chùa Vĩnh Khánh (xã Thụy Hương), chùa Khánh Dương (xã Tân Trào), chùa Trúc Am (xã Du Lễ).
Huyện Thủy Nguyên có các chùa Minh Tường (xã Tân Dương), chùa Kiến Linh (xã Phục Lễ), chùa Thọ Ninh (xã Tam Hưng).
Huyện Tiên Lãng có các chùa Minh Phúc (Minh Thị, xã Toàn Thắng), chùa Hồng Khánh (Đốc Hành, xã Toàn Thắng), chùa Chuyết Sơn (Kinh Lương), chùa Bảo Khánh (xã Khởi Nghĩa) chùa Sùng Ân (Phú Kê, thị trấn Tiên Lãng).

Huyện Vĩnh Bảo có chùa Sùng Quang (xã Vĩnh An), chùa Phúc Âm (Lôi Trạch, xã Trấn Dương) dựng năm 1510, chùa Hòa Am (Tám Thượng, xã Việt Tiến) dựng năm 1511, chùa Tăng Thịnh (Tiên Am, xã Lý Học) dựng năm 1540, chùa Song Mai (Trung Am, xã Lý Học) dựng năm 1543, chùa Kế Tây (Lạng Am, xã Lý Học) dựng năm 1570), chùa Linh Ứng (chùa Sẻ, xã Hưng Nhân), chùa Bảo Quang (Đồng Quan, xã Dũng Tiến) dựng năm 1572.
Huyện An Lão có chùa Hoa Tân (Bách Phương), Linh Sơn (Áng Sơn, xã Thái Sơn).
Huyện An Dương có chùa Khải Quang (Đào Yêu).
Quận Đồ Sơn có chùa Vĩnh Khánh (phường Bàng La)...
Nội dung ghi chép việc xây dựng, trùng tu, tôn tạo, tạo tượng, đúc chuông, công đức được thể hiện trong các bia ký hiện còn. Ngoài ra còn nhiều chùa mới được xây dựng: Năm Đoan Thái 3 (1588), dân các xã Đào Yêu huyện An Dương và xã Thượng Chất huyện An Lão, phủ Kinh Môn góp công của dựng tượng Ngọc Hoàng bằng đá cho chùa Quang Khải (xã Quang Hưng, huyện An Lão)...
Tôn thất nhà Mạc đóng góp xây dựng, tu bổ chùa: Thái hoàng Thái hậu họ Vũ, Hoàng Thái hậu họ Phan, Khiêm Thái vương họ Mạc, Thuận vương họ Mạc, vị vương họ Mạc, Tĩnh Quốc công Thái phu nhân họ Nguyễn, Quốc Thái phu nhân họ Vương, Thọ Phương thái trưởng công chúa họ Mạc, Phúc Thành thái công chúa họ Mạc, Bảo Gia thái trưởng công chúa họ Mạc, Tu Hòa thái trưởng công chúa họ Mạc, Khiêm Thái vương phi họ Mạc, Thụy Quốc công, Trường Quốc công, Sùng Quốc công, Văn Quốc công, Ninh Quốc công, Đoan Quốc công, Lập Quốc công, Phú Quận công, Hoa Quận công, Khang Quận công, Tuy Quận công, Triều Quận công, Ngạn Quận công, Trình Quận công, Lê Quận công, Phú Quốc hầu, Đông An hầu, Lương Xuyên bá, An Lộc bá, Đặng Thị Hiếu và chủ tế họ Nguyễn.1
Theo truyền ngôn, chùa Song Mai được Nguyễn Bỉnh Khiêm dựng dành cho người vợ thứ ba là bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt để bà tu tại gia. Tại chùa, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đã từng tiếp sứ giả của chúa Trịnh (theo Phả ký Vũ Khâm Lân).
Chùa Thái Bình được xây dựng vào thời Mạc, do chính Nguyễn Bỉnh Khiêm cắm đất, tổ chức thi công. Gia phả họ Trần làng Dương Am (Trấn Dương) chép: “Trình Quốc công chọn cửa khẩu xin chỗ cạnh làng Am, lập chùa bên cửa biển gọi là Thái Bình tại xứ Đại Đồng”.
Chùa Thiên Hương (Mét), một thời là trung tâm Phật giáo, hằng năm, các sư sãi về ngồi Hạ.
Theo truyền ngôn, tại chùa, thiếu thời, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã theo học một danh sĩ nhà Lê, nhà sư Trần Ông Sóc. Khi chùa bị hư hỏng, Trạng Trình đã vận động bô lão trong vùng công đức tiền của trùng tu chùa và xây cầu Tràng Xuân.
Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà văn hóa lớn của dân tộc, đã để lại cho hậu thế một số lượng lớn những tác phẩm có giá trị cả chữ Hán và chữ Nôm. Tiêu biểu là hai tập Bạch Vân am thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập cùng nhiều văn bia, sấm ký.
______________
1 PGS.TS. Đình Khác Thuần: Văn bia thời Mạc, Nxb Hải Phòng, 2010, tr.47.
Khi cáo quan về quê, ông cho dựng am Bạch Vân, quán Trung Tân và mở trường dạy học. Tư tưởng triết học và thơ ca của ông thấm đẫm tư tưởng Phật giáo.
Về kiến trúc, dựa vào những cổ tự còn lại, khoảng 42 ngôi, chùa thời Mạc nhỏ hơn nhiều so với thời Lý - Trần.
Kết cấu chủ yếu theo kiểu chữ Công (工), với tòa Phật điện làm trung tâm và được bổ sung vào thêm các cụm kiến trúc khác, như Tiền đường, Hậu đường, Thiêu hương, Giải vũ, hành lang, Tam quan, Gác Chuông, Gác trống, bố trí khép kín kiểu Nội Công Ngoại Quốc (国).
Hệ thống tượng thờ trong các chùa thời Mạc khá phong phú, nhất là tượng Phật.
Tượng chân dung đều làm bằng đá, tượng và bệ tượng được làm liên khối, khối hình mập khỏe, trang trí công phu.
Tượng Phật chủ yếu được tạo từ chất liệu gỗ mít, vàng tâm. Số chùa có tượng và số lượng tượng đậm đặc nhất là vùng Kiến Thụy, Hải Phòng hiện nay, trước đây là trung tâm Dương Kinh, kinh đô thứ hai của nhà Mạc. Hệ thống tượng thờ chùa nhiều nhất có 49 pho tượng (chùa Đại Bi, tỉnh Hải Dương), ít nhất có một hoặc vài ba pho. Nhìn chung, các tượng chùa thời kỳ này mang nhiều nét gần gũi thể hiện nhân cách và kế thừa lối tạc tượng thời Lý với khuôn mặt hiền dịu. Trong hệ thống tượng Phật thời Mạc nổi hơn cả là bộ Tam Thế, số lượng còn khá nhiều, trong đó có 23 pho ở 8 Phật điện thuộc chùa Thiên Phúc, Trúc Am... huyện Kiến Thụy.
Trong Phật điện thời Mạc còn có những pho tượng đặc sắc như tượng Quan Âm, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thiên thủ thiên nhãn, Quan Âm Tọa sơn, Quan Âm Chuẩn đề, Quan Âm Tống tử... Tượng Quan Âm Bồ tát đầy lòng yêu thương và khoan dung, cứu vớt chúng sinh khỏi cơ hàn, tội lỗi. Ngoài ra còn một số tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, cùng các thị giả, Kim Cương Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), tượng Ngọc Hoàng và Nam Tào, Bắc Đẩu - những vị thần có nguồn gốc từ Đạo giáo.
Thực tế, tượng Ngọc Hoàng xuất hiện từ thế kỷ X, nhưng được đặt chung trong Phật điện thì mới xuất hiện phổ biến từ thời Mạc.
Điều đó, chứng tỏ sự hòa nhập, đan xen các yếu tố Phật - Đạo trong hoạt động tôn giáo của xã hội đương thời, tạo thành tín ngưỡng dân gian.
Trong các chùa thời Mạc còn có khá nhiều tượng Hậu, người có nhiều công đức với chùa làng, được dân làng thờ phụng. Phần lớn các tượng này thuộc về vua, quan và người hoàng tộc nhà Mạc, nên thường gọi là tượng Vương hay Ông Hoàng. Tiêu biểu là những tượng Vương ở chùa Hưng Khánh (Trung Hành, phường Đằng Lâm, quận Hải An) và các chùa Thiên Phúc (Trà Phương), chùa Phúc Linh (Nhân Trai), chùa Thiên Phúc (Hòa Liễu) huyện Kiến Thụy. Chùa Thiên Phúc (Trà Phương) trên Chính điện đặt tượng Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn và Mạc Đăng Dung (trên mũ có hình chim đang bay xuống, trước ngực có hình rồng uốn lượn trên áo bào).

Chùa Phúc Linh (Nhân Trai, huyện Kiến Thụy) đặt tượng Mạc Đôn Nhượng. Chùa Thiên Phúc (Hòa Liễu, huyện Kiến Thụy) đặt tượng Hoàng Thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn.
Chùa Lã Tiên (Lôi Động, xã Hoàng Động) và Kiến Linh (xã Phục Lễ), huyện Thủy Nguyên, đặt tượng thân vương nhà Mạc và Mạc Đăng Dung (đã bị mất)...
Như vậy, sau biết bao biến cố của lịch sử và chiến tranh suốt thế kỷ XVI, thời vương triều Mạc trị vì (1527-1592), Phật giáo được phục hưng và phát triển rực rỡ. Phật giáo có sự hòa hợp, pha trộn với tín ngưỡng dân gian khá rõ nét. Di sản văn hóa Phật giáo, đặc biệt là nghệ thuật kiến trúc, tạo tác, hiện còn khá đậm nét trên địa bàn Hải Phòng.
4. PHẬT GIÁO HẢI PHÒNG THỜI LÊ TRUNG HƯNG (1592-1777)
Sau khi nhà Mạc sụp đổ, Đại Việt lại lâm vào tình trạng phân chia Đàng Trong - Đàng Ngoài và chiến tranh Trịnh - Nguyễn kéo dài từ năm 1627 đến 1672.
Ở Đàng Ngoài, triều đình Lê - Trịnh tiếp tục coi Nho giáo là nền tảng tư tưởng của mọi thiết chế chính trị - xã hội. Tuy nhiên, do sự suy đồi của chế độ quân chủ chuyên chế, trung ương tập quyền, ý thức hệ Nho giáo ngày càng suy vi. Tư tưởng “chính danh, định phận” mất dần ý nghĩa. Thiên Chúa giáo đang tìm mọi cách thâm nhập. Đất nước chia cắt. Chiến tranh, thiên tai, mất mùa, đói kém diễn ra liên miên. Tình trạng trên đã ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của người dân trong các làng xã. Mọi người đến chùa cầu Phật, đến đình miếu cầu Thánh, đến nhà thờ cầu Chúa và phát triển các tập tục tín ngưỡng cổ truyền. Thực trạng xã hội các thế kỷ XVI - XVIII đã tạo điều kiện phát triển lệ mua hậu thần, hậu Phật. Để được cúng giỗ lâu dài, những người có của đã cúng ruộng, cúng tiền vào cho nhà chùa. Cũng thời kỳ này, sự hòa hợp của Phật giáo với Khổng, Lão và với tín ngưỡng cổ truyền diễn ra khá sâu sắc.
4.4.1. Sự hòa hợp giữa các thiền phái
Vào khoảng giữa thế kỷ XVII, một số khá đông các cao tăng từ Trung Hoa đã qua Đại Việt hành đạo. Đây là một nguyên nhân quan trọng khiến cho Phật giáo ở nước ta được phục hưng.
Ông thế danh là Lý Tân Liên, sinh ở đất Tiệm Sơn, huyện Hải Trừng, phủ Thàn Chương, Mân Điện, nay là thôn Tiệm Sơn, thị trấn Đông Tứ, huyện Long Hải, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Thuở nhỏ học thông tứ thư ngũ kinh, lớn lên xuất gia tu học. Năm 1609, Chuyết Chuyết đời thứ 34 dòng Lâm Tế chính tông (Lâm Tế Nghĩa Huyền) sau khi đắc pháp với Trạng nguyên Tăng Đà Đà ở Phúc Kiến miền Nam Trung Quốc theo đường thủy vào Cổ Miên (Cam pu chia ngày nay) hành đạo ở đây 16 năm. Năm Ất Sửu (1625), ngài trở về Trung Quốc thăm gia đình một thời gian ngắn rồi lại vượt biển vào Đàng Trong Đại Việt hoằng hóa.
Năm 1633, Sư cùng đồ chúng kéo nhau ra Bắc theo lời mời của đại thương gia Nguyễn Tề. Đến kinh thành Đông Đô (Thăng Long) biết tin Nguyễn Tề phạm tội bị bắt, thày trò ông phải đi khất thực mấy tháng liền. May thay, cuối năm đó, Sư gặp đức bà Trần Thị Ngọc Am (1580 - 1647) cung tần của chúa Trịnh Tráng qui y học đạo. Sau lại được sự quan tâm giúp đỡ
______________
1 Minh Hành Tại Tại biên tập: Nguyễn Quang Khải - Thích Nguyên Đạt dịch, Chuyết Chuyết Tổ sư ngữ lục, Nxb Thanh Hóa, 2017
của vua Lê Thần Tông cùng vợ là hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc và Thanh Đô vương Trịnh Tráng, Viên Văn Chuyết Chuyết về trụ trì chùa Phật Tích (Vạn Phúc tự, huyện Tiên Du) rồi sang trụ trì và đai trùng tu chùa Bút Tháp (Ninh Phúc tự, huyện Thuận Thành) đều ở tỉnh Bắc Ninh. Cùng hai vị đệ tử xuất sắc nhất của mình là Minh Hành (1596 - 1659, người Hoa) và Minh Lương (1611 - 1675, người Việt) thiền sư Chuyết Chuyết đã truyền bá thành công dòng Lâm Tế vào Đàng Ngoài, truyền thừa theo bài kệ của Trí Bản Đột Không:
Trí Tuệ Thanh Tịnh, Đạo Đức Viên Minh,
Chân Như Tính Hải, Tịch Chiếu Phổ Thông,
Tâm Nguyện Quảng Tục, Bản Giác Xương Long,
Năng Nhân Thánh Quả, Thường Diễn Khoan Hoằng, Duy Truyền Pháp Ấn, Chứng Ngộ Hội Dung, Kiên Trì Giới Hạnh, Vĩnh Kế Tổ Tông,
Chuyết Chuyết thiền sư được vua Lê Chân Tông phong tặng là “Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”.
Thiền sư Chân Nguyên Tuệ Đăng (1647-1726) - đệ tử đắc pháp với Tổ Minh Lương Mãn Giác có hai đệ tử là Như Trừng Lân Giác (1696-1733) và Như Hiện Nguyệt Quang (?-1765).
Sơn môn Lâm Tế Đông Khê
Thiền sư Như Hiện viên tịch ngày mồng 6 tháng 5 năm Ất Dậu (1765), nhục thể được lưu ở chùa Nguyệt Quang. Bia trên mặt tháp chùa có kê danh sách các Đại đệ tử, gồm trên 60 vị, đứng đầu là Thiền sư Tính Tỳ, tiếp đó là Tính Thiện, Tính Tâm, Tính Trung, Tính Tĩnh, Tính Thuyên, Tính Huệ...
Hòa thượng An Thiền Phúc Điền trong sách Thiền uyển truyền đăng lục, Quyển hạ, trang 19a-19b, viết: “Hải Dương tỉnh, Đông Khê xã, Nguyệt Quang thiền tự khai sơn thuỷ tổ, đặc phong Tăng chính Thuần Giác Như Hiện Tổ sư. Hạ nhị truyền Tịnh Minh Tính Tĩnh Huệ Không thiền sư. Hạ tam truyền Tịnh Bình Hải Trạm thiền sư. Hạ tứ truyền Tịch Chiếu Hải Triêm thiền sư. Hạ ngũ truyền Đông Triều Quỳnh Lâm tự ân tứ đao điệp Hải Duyệt Hòa thượng. Hạ lục truyền Tịch Diệu thiền sư”.
Theo đó ta biết, xuất phát từ Tổ Thông Giác Như Hiện - Tổ khai sơn chùa Nguyệt Quang, Hải Dương (nay là Hải Phòng), đời thứ 37 Lâm Tế Trí Bản Đột Không có 3 nhánh truyền đến 3 nơi, trong đó:
Nhánh thứ nhất, tuần tự truyền xuống tại bản tự và đến đời thứ 5 thì được Hòa thượng Hải Duyệt truyền qua chùa Quỳnh Lâm ở Đông Triều, Quảng Ninh, rồi đệ tử của ngài Hải Duyệt là thiền sư Tịch Diệu kế tục truyền thừa tại đó.
Như vậy, ngài Như Hiện và đệ tử đắc pháp Tính Tĩnh (1692 - 1773) đã xây dựng và phát triển chùa Nguyệt Quang thành sơn môn Lâm Tế Chuyết Chuyết đầu tiên tại Hải Phòng từ nửa

sau thế kỷ XVIII, với Tổ đình là chùa Đông Khê (Nguyệt Quang tự), phường Đông Khê, Quận Ngô Quyền.1
Dòng thiền Tào Động
Bên cạnh dòng thiền Lâm Tế chính tông do thiền sư Chuyết Chuyết người Trung Hoa truyền vào Đàng Ngoài Đại Việt có dòng thiền Tào Động (do các thiền sư Tào Sơn Bản Tịch (840-901) của Tổ Động Sơn Lương Giới (807-869) sáng lập ở Trung Quốc) do thiền sư Thủy Nguyệt đi du học Trung Hoa, cùng với đệ tử xuất sắc là ngài Chân Dung Tông Diễn phát triển thành tông Tào Động Việt Nam.
Phái Tào Động phát triển mạnh ở Hải Dương rồi lan dần đến vùng Hải Phòng, Nam Định hiện nay. Thiền phái này có nhiều chùa lớn như Trấn Quốc, Hồng Phúc (tức chùa Hòe Nhai còn gọi là chùa Hòa Giai ở Hà Nội), chùa Cả (Thánh Ân tự, ở thành phố Nam Định), chùa Cổ Lễ (huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), Vạn Long (Vĩnh Niệm, Hải Phòng). Có tự này đến nay vẫn được coi là cơ sở truyền thừa của dòng Thiền này.
Thiền sư Thủy Nguyệt, họ Đặng tên là Đăng Giáp, người làng Hải Triều, xã Tân Lễ, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ngài vốn theo Nho học, thi dậu cống tử tứ trường. Nhưng sớm nhận thức được lời Phật dạy: “Cuộc đời là vô thường, thân người là giả tạm” nên năm 20 tuổi ngài xuất gia tu ở một ngôi chùa trên núi Hùng Lĩnh. Năm 1664, ngài cùng hai đệ tử sang Hồ Châu, Trung Quốc tham học với thiền sư Nhất Cú Trí Giáo ở núi Phượng Hoàng. Năm 1667 ông và đệ tử về nước, ngụ tại chùa Vọng Lão ở núi An Sơn, huyện Đông Triều, tỉnh Hải Dương (nay thuộc Quảng Ninh). Ngài cũng thường hành đạo tại chùa Tư Phúc, núi Côn Sơn và chùa Nhẫm Dương, huyện Kinh Môn, Hải Dương, được nhiều người mến mộ. Ngài viên tịch năm 1704, thọ 68 tuổi.
Đệ tử đắc pháp của ngài Thủy Nguyệt là sư Tông Diễn (1640-1711), hiệu là Chân Dung, quê ở làng Hương Ngải, xã Bình Minh, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Sau ngày sư phụ viên tịch, ngài về Đông Sơn hoằng hóa, người bốn phương tìm đến theo học rất đông. Sau, ngài thường lui tới giảng đạo cho vua chúa nghe. Năm 1711, sau khi truyền pháp cho đệ tử là thiền sư Tính Giác (hiệu Hạnh Nhất), ngài an nhiên thị tịch.
Thiền sư Thủy Nguyệt Thông Giác cùng đệ tử kế đăng Chân Dung Tông Diễn, đã có công du nhập tông Tào Động Trung Quốc vào Việt Nam và phát triển thành sơn môn Tào Động Việt Nam với Tổ đình là Hồng Phúc Hòe Nhai tại Hà Nội và truyền thừa theo bài kệ của Ngài Trí Giáo Nhất Cú đã truyền cho Thiền sư Thủy Nguyệt, làm hệ thống của bản phái đối với việc truyền bá :
Tĩnh Trí Thông Tông Từ Tính Hải
Khoan Giác Đạo Sinh Quang Chính Tâm
______________
1 Vì Tổ Chân Nguyên theo dòng thiền Lâm Tế và được truyền Y bát dòng thiền Trúc Lâm nên ngài Như Hiện đệ tử đắc pháp nơi Tổ cũng mang tư tưởng hai dòng thiền này, gọi chung là dòng thiến Tế - Trúc. Vì thế có sách gọi chùa Đông Khê thuộc dòng thiền Tế - Trúc.

Mật Hạnh Nhân Đức Di (Xưng) Lương Tuệ
Đăng Phổ Chiếu Hoằng Pháp Vĩnh Trường
Hai mươi tám chữ trong bài kệ này, thầy trò cứ lần lượt mỗi người lấy một chữ ghép với tên gọi của mình mà xưng hô để phân biệt hàng trên hàng dưới.
Các chùa theo tông Tào Động ở Hải Phòng có lẽ từ thế kỷ XVIII như chùa Phúc Linh (Thái Lai), xã Cao Nhân, huyện Thủy Nguyên, chùa Vạn Long (Vĩnh Long), phường Vĩnh Niệm, quận Lê Chân.
Phật giáo Hải Phòng vào thế kỷ XVIII, không chỉ có tông Lâm Tế và Tào Động mà còn có dòng thiền Tế-Trúc. Đó là sự hòa trộn giữa thiền phái Lâm Tế và thiền phái Trúc Lâm, mà khởi nguồn dòng thiền này là thiền sư Chân Nguyên (1647-1726). Ngài không chỉ theo học thiền sư Minh Lương phái Lâm Tế Chuyết Chuyết mà còn được truyền thừa y bát Trúc Lâm làm trụ trì chùa Long Động, chùa Quỳnh Lâm ở tỉnh Quảng Ninh. Bởi vậy, chùa Đông Khê của thiền sư Như Hiện Nguyệt Quang mang tính chất dòng thiền Tế - Trúc. Chùa Dư Hàng, Quận Lê Chân có xuất xứ từ chùa Vĩnh Nghiêm (xã Đức La, huyện Yên Dũng), tỉnh Bắc Giang cũng thuộc dòng thiền Tề-Trúc.
4.4.2. Sự hòa hợp giữa Phật giáo với Khổng, Lão
Ba tôn giáo Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo ở Đại Việt thời Lê Trung Hưng được thể hiện “Tam giáo đồng nguyên” (cả ba tôn giáo cùng một gốc) và “Tam giáo đồng quy” (cả ba tôn giáo trợ giúp nhau). Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo giáo lo thể xác con người, Phật giáo lo về tâm con người. Trong bố trí “Tam giáo Tổ sử” với Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải. Sự kết hợp này còn được thể hiện trong kiến trúc chùa kiểu chữ Tam (三) và một số loại hình tượng thờ tự.
Tạo Phật Ngọc Hoàng bị tín thí
Bia xã Đào Yêu, huyện An Dương, phủ Kinh Môn (nay là thôn thuộc xã Hồng Thái), tại chùa Quang Khải, xã Đào Yêu, tổng Kiểu Yêu, huyện An Dương, 2 mặt, khó 0,65m x 0,41m, có 34 dòng chữ Hán và Nôm, khoảng 600 chữ, có hoa văn, không có chữ húy, ghi việc dân các xã Đào Yêu huyện An Dương và xã Thượng Chất, huyện An Lão, phủ Kinh Môn góp công của xây dựng tượng Ngọc Hoàng bằng đá cho chùa Quang Khải. Do Trần Cảnh Xuân người Điều Yêu Hạ soạn năm Đoan Thái 3 (1588).
4.4.3. Sự dung hòa với tín ngưỡng
Tín ngưỡng truyền thống đã tiếp nhận Phật giáo ngay từ đầu Công nguyên. Đến thời kỳ này có bước tiến cao hơn. Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, việc thờ Mẫu, trong đó có Thánh Mẫu Liễu Hạnh diễn ra phổ biến ở miền Bắc. Thánh Mẫu Liễu Hạnh (còn được gọi là Bà Chúa Liễu, Mẫu Liễu, Mẫu Liễu Hạnh) là một trong những vị Thánh quan trọng. Mẫu Liễu Hạnh là một trong bốn vị Thánh “Tứ bất tử”, là Thánh Mẫu đứng đầu hệ thống Tam phủ, Tứ phủ thờ Đạo Mẫu.

Bà ba lần giáng trần, đã được các triều đại phong kiến từ thời Hậu Lê cấp nhiều Sắc, tôn phong là “Mẫu nghi thiên hạ - Mẹ của muôn dân”, Chế Thắng Hòa Diệu đại vương và cuối cùng quy y cửa Phật theo lối bán tu rồi thành đạo là Mã Vàng Bồ tát. Nhiều chùa ở miền Bắc đưa Thánh Mẫu vào thờ tự.
Trên địa bàn Hải Phòng, nối tiếp tinh thần của thời Mạc, Phật giáo thời kỳ này được nhân dân các làng xã vẫn tiếp tục quyên góp tiền của, công sức dựng mới, trùng tu, tôn tạo chùa chiền, đúc chuông, tô tượng. Nghệ thuật kiến trúc có bước phát triển mới. Hầu như làng nào cũng xây dựng hoặc tu bổ chùa làng mình thật to đẹp. Theo thống kê ban đầu, trong danh mục văn bia chùa Hải Phòng, từ thế kỷ XVII đến XVIII, nhất là đầu thế kỷ XVIII, có tới 806 bia, thạch trụ đài ghi chép việc tạo tượng, đúc chuông, xây dựng và tu bổ chùa chiền.
Kiến trúc thời kỳ này chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo, Đạo giáo và thể hiện tư tưởng của nhà nước phong kiến tập quyền: Bề thế, biểu tượng rồng, phượng uy nghi, nhiều nanh vuốt... Kiến trúc chùa cũng chú trọng tới mở rộng quy mô rộng rãi, trang nghiêm. Nghệ thuật điêu khắc với kỹ thuật điêu luyện, tinh tế. Do vậy, đến nay, sau nhiều biến cố, số lượng chùa thời Lê Trung hưng trên địa bàn Hải Phòng vẫn còn lại khá lớn, chủ yếu tập trung ở các huyện Thủy Nguyên, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng. Nhiều gác chuông được tu bố nâng cao hơn. Nhiều tượng Phật thể hiện phong cách phóng khoáng của nghệ nhân, như tượng Phật bà Quan Âm nghìn mắt nghìn tay, tượng Phật tọa trên tòa sen... Điều đáng quan tâm, chùa trên địa bàn Hải Phòng, nhất là ở các làng xã ven cửa sông Bạch Đằng (gắn với 3 chiến công trên Bạch Đằng giang lịch sử), có một số đặc điểm rất riêng là gắn với những sự kiện lịch sử của đất nước, những nhân vật anh hùng dân tộc được bố trí trong quần thể tín ngưỡng hoặc phối thờ tạo không gian “Tiền Thánh, hậu Phật” linh thiêng nhưng gần gũi.
4.4.4. Một số chùa tiêu biểu được khởi dựng và tu bố trong thời kỳ này:
+ Huyện Thủy Nguyên có các chùa: Đông Môn (xã Hòa Bình) dựng năm 1603, chùa Linh Quang (xã An Sơn) dựng năm 1607, chùa Linh Tiên (xã Kỳ Sơn) dựng năm 1607, chùa Vĩnh An (xã An Lư) khởi dựng năm 1612, chùa Linh Quang (xã Hòa Bình) dựng năm 1643, chùa Hoàng Mai (xã Thiên Hương) dựng năm 1647, chùa Đông Minh (xã Tam Hưng) dựng năm 1676, chùa An Lạc (xã Hoàng Động) dựng năm 1685, chùa Thanh Am (xã Ngũ Lão) dựng năm 1705, chùa Hồi Long (xã Minh Tân) dựng năm 1706, chùa Vĩnh Bảo (xã Hoa Động) dựng năm 1706, chùa Kiến Linh (xã Phục Lễ) dựng năm 1709, chùa Hàm Long (xã Chính Mỹ) khởi dựng năm 1709, chùa Linh Vân (xã Thiên Hương) dựng năm 1731, chùa Linh Lâu (xã Hoa Động) dựng năm 1762, chùa Khánh Long (xã Thủy Sơn)... Các chùa được tu sửa, như chùa Tiên Lữ (xã Hoàng Động) năm 1605 và năm 1683, chùa Sùng Nguyên (xã Lâm Động) năm  1605, chùa Thiên Vũ (xã Phù Ninh) năm 1606 và năm 1632.1 Chùa Thọ Linh (xã Tam Hưng) năm 1620 và 1734, chùa Long Tiên (xã Kỳ Sơn) năm 1623, chùa Ngọc Hoa (xã Thủy Đường) năm 1644 và 1695, chùa Hàm Long (xã Minh Tân) năm 1680, chùa An Lạc (xã Hoàng Động)
______________
1 Chùa được một vị Đô đốc quận công họ Nguyễn chuyển đến vị trí mới trên khu đất có thế đầu con hổ một răng. Nay còn lưu truyền câu ca: “Phượng Sơn chi dương nhất giả, Phù Lưu dữ hổ độc như” (do húy kỵ đọc chệch nha là nhu). Dấu tích cổ xưa của chùa còn được lưu lại qua hệ thống văn bia đá có niên hiệu Đức Long thứ 4 (1632), Cảnh Hưng thứ 19 (1788), Chính Hòa thứ 21 (1701), các bia hậu Phật thời Nguyễn, chuông đồng đời vua Lê Hy Tông (1676)
năm 1689, chùa Hoàng Mai (Thiên Hương) năm 1641 (Bia lưu tại chùa Hoàng Mai, xã Trịnh Xá, tổng Trịnh Xá) cho biết năm Ất Hợi, nhà sư trụ trì chùa Hoàng Mai là Tăng thống Mậu Tín, pháp hiệu Đức Nghiêm và bà vãi Đào Thị Cương tự xuất của riêng và vận động thiện tín trùng tu chùa), chùa Phúc Linh (xã Hợp Thành) năm 1705 và 1720, chùa Kiến Linh (xã Phục Lễ) năm 1708, chùa Đông Linh (xã Quảng Thanh) năm 1712 và 1791, chùa Ngọc Hoa (Mỹ Đồng) năm 1714, chùa Thanh Am (xã Ngũ Lão) năm 1712 và 1725, chùa Vĩnh Linh (xã Tam Hưng) năm 1775, chùa Linh Sơn (Phù Ninh) năm 1758, chùa Tây Trúc (Thị trấn Minh Đức) năm 1764 và 1773...
Hoàng Mai tự bi
Bia lưu tại chùa Hoàng Mai, xã Trịnh Xá, tổng Trịnh Xá. huyện Thủy Nguyên. Người soạn là Nguyễn Thế Phúc tự Mậu Am, hiệu Sinh, tước Văn Lễ nam, dựng năm Dương Hòa 7 (1641), 2 mặt, khổ 0,79m x 0,52m, có 40 dòng chữ Hán khoảng 600 chữ, có hoa văn, không có chữ húy, chạm mặt trời rồng, hoa lá khá tinh xảo. Năm Ất Hợi, nhà sư trụ trì chùa Hoàng Mai là Tăng thống Mậu Tín, pháp hiệu Đức Nghiêm và bà vãi Đào Thị Cương tự xuất của riêng và vận động thiện tín trùng tu chùa Hoàng Mai, ghi tên những người đóng góp vào việc xây dựng Tiền đường, trùng tu Thượng điện, cột Thiêu hương...
+ Huyện Kiến Thụy có các chùa được tu bổ là chùa Đại Linh (xã Đông Phương) năm 1609, 1677, chùa Trung Linh (xã Đại Hà) năm 1642, chùa Đại Vĩnh (xã Tú Sơn) năm 1623, chùa Sùng Khánh (xã Đông Phương) năm 1683, chùa Phúc Linh (xã Tân Trào) năm 1702, chùa Khánh Diên (xã Tân Trào) năm 1702.
+ Huyện Vĩnh Bảo có các chùa được dựng là chùa Tây Ngư (xã Vĩnh Tiến) năm 1619, chùa Linh Am (Sòi, xã Hiệp Hòa) xây đầu thế kỷ XVII và tu bổ năm 1780, chùa Quang Long (xã Trấn Dương) năm 1774, chùa Kim Ngân (xã Vĩnh An), chùa Linh Ứng (xã Hưng Nhân), chùa Đông Linh (xã Thanh Lương), chùa Kim Lâu (xã Tân Liên)...
+ Huyện An Lão có các chùa được khởi dựng là chùa Khánh Minh (xã Quang Trung) năm 1711, có trụ trạch điền viên cung vi Tam bảo, Lê Vĩnh Thịnh 13 (1717), chùa Chi Viên, xã Tôn Lộc, tổng Cao Mật, An Lão (nay là thôn thuộc xã Chiến Thắng) cho biết thiền sư Hoàng Tuấn, tự Châu Trí, hiệu Phổ Hoá thiền sư, đã đứng ra xây dựng chùa Chi Viên. Trước khi đi tu, nhà sư đã cúng hết ruộng vườn vào việc này; có bài xướng ca tụng công đức, ghi tên họ cha mẹ, chú bác, anh em nhà sư đã cúng tiến ruộng vào chùa. Mặt sau bia ghi tên họ những người đóng góp tiền của, có bài vị nhà sư, hai bên có câu đối...
+ Huyện An Dương có các chùa được tu bổ như chùa Nhuệ Quang (Văn Tra, An Đồng) năm 1709 và khởi dựng chùa Linh Quang (Kiều Hạ, Quốc Tuấn), chùa Quang Đàm (Kiều Trung, xã Hồng Thái), chùa Linh Quang (Cống Mỹ, Nam Sơn)...
+ Huyện Tiên Lãng có các chùa được khởi dựng là chùa Thiên Trúc (Giang Khẩu, xã Đại Thắng) năm 1648, chùa Quang Khánh (Trung Lăng, thị trấn Tiên Lãng), chùa Xa Vỹ (xã Tiên Minh) và tu bổ chùa Bạch Đa (Dương Áo, xã Hùng Thắng) năm 1780...

+ Quận Dương Kinh có các chùa được khởi dựng là chùa Hương Linh, Long Khánh (phường Hưng Đạo)...
+ Quận Lê Chân có chùa được tu bổ, mở rộng là chùa Phúc Quang (Hàng Kênh) năm Đức Long thứ I (1629) đời vua Lê Thần Tông, chùa Phúc Lâm (Dư Hàng) năm Dương Đức thứ I (1672) đời vua Lê Gia Tông.
+ Quận Ngô Quyền có các chùa được tu bổ là chùa Nguyệt Quang (Đông Khê), chùa Linh Quang (An Đà), chùa Linh Độ (chùa Đỏ)...
+ Quận Hải An có các chùa được tu bổ là chùa Thắng Phúc (Xâm Bồ), chùa Hưng Khánh (Trung Hành), chùa Hoa Linh (chùa Vē)...
- Di sản văn hóa Phật giáo thời Lê Trung Hưng khá phong phú. Nhiều cổ tự hiện còn trên địa bàn Hải Phòng là những công trình kiến trúc đặc sắc, mang tính nghệ thuật cao, tiêu biểu cho văn hóa Phật giáo của thế kỷ XVII - XVIII:
+ Chùa trên địa bàn Quận Ngô Quyền: Nguyệt Quang (Đông Khê), được khởi dựng vào thế kỷ II-III, nhưng đã bị giặc Minh xâm lược (1407 - 1427) phá hủy. Theo văn bia hiện còn, thời Mạc Hiến Tông (1541-1545), chùa được một vị sư pháp hiệu Phổ Hằng cùng dân làng phục dựng trên nền cũ. Sau đời Lê Thần Tông (1654), chùa lại bị hủy hoại. Mãi đến đời Lê Hy Tông (1680-1705), Thiền sư Như Hiện trụ trì, gây dựng lại chùa trở thành chốn Tổ, mở giáo đường đào tạo nhiều Tăng tài, hoằng dương Phật pháp. Sư cụ Tính Tịnh, người làng Đông Khê, kế nhiệm trụ trì cũng được vua Lê Hiến Tông phong đạo hiệu Hoằng Đạo Hòa thượng.
Kiến trúc chùa hiện nay mang phong cách Nguyễn nhưng vẫn lưu giữ nhiều cổ vật tế tự có giá trị, như hệ thống tượng Tam Thế, A Di Đà, tượng Tổ, Ngọc Hoàng, đặc biệt là các mộ tháp, bia đá có từ đời Hậu Lê và Đại hồng chung đúc năm Tân Dậu, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 9 (1802). Chùa Linh Độ (chùa Đỏ), xây dựng vào thế kỷ XIII, được khôi phục năm Bảo Thái thứ 6 (1725) đời Lê Dụ Tông. Chùa Linh Quang (An Đà, trước là làng Đà Cụ), ban đầu còn khá nhỏ, lợp rạ. Đời Lê Cảnh Hưng thứ 46 (1786), chùa được xây dựng, được tu bổ, mở rộng vào đời Thiệu Trị thứ 5 (1846) và Hàm Nghi thứ 1 (1885), là một công trình kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu giống chùa Phụng Pháp.
Tăng thống Thuần Giác Hòa thượng Như Hiện, theo gia phả họ Trần làng Đông Khê cung cấp: “Thủy tổ các chi họ Trần làng Đông Khê là Trần tự Bắc Giang, Trần tự Mông Dây, Trần tự Vô Ngại, Trần tự Hồng Phúc, Trấn tự Kim Bôi, Trần tự Kim Tiên, Trần tự Kim Yến... không chỉ là người sáng lập võ đường Đông A ở vùng đất Hải Tần phòng thủ (Hải Phòng ngày nay) mà còn là các bậc tiền Tổ khai canh, khai cơ. Vốn sùng đạo Phật, các cụ đã cho dựng một thảo am nhỏ thờ Phật và ngôi miếu Chè thờ Sơn thần, Thủy quái bằng tre nứa ở khu vườn chuối (gần trang An Biên của bà Lê Chân). Thảo Am thờ Phật thuở hồng hoang là tiền thân của chùa Nguyệt Quang (Đông Khê) ngày nay. Sang thời nhà Trần (1225-1400), chùa Nguyệt Quang được xây dựng khang trang, trở thành cơ sở lớn của dòng thiền Phật giáo Trúc Lâm. Đức Điều Ngự Giác Hoàng Tịnh Tuệ thiền sư không ít lần về chùa Nguyệt Quang khai hóa, thuyết pháp.

Ngài Thuần Giác Hòa thượng Như Hiện, sau khi đắc pháp với Sư Tổ Chân Nguyên, về trụ trì chùa Nguyệt Quang, đã khai hóa thành nơi chốn Tổ lớn, có ảnh hưởng rộng, đào tạo nhiều Tăng tài. Ngài tinh thông đạo pháp, kiên trì giới hành, được nhân dân, sĩ thứ kính trọng. Năm 1748, Thiền sư được vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) ban chức Tăng Cương, năm 1757, lại được phong là Tăng thống Thuần Giác. Ngài lấy tên chùa Nguyệt Quang làm tên hiệu của mình.
+ Chùa trên địa bàn huyện Thủy Nguyên: Dãng Trung (Linh Thứu), Hàm Long (Dãng Tây), Hồi Long (Dãng Đông), Linh Quang (Bến), Diệp (đã bị phá) xã Minh Tân đều được xây dựng vào thời Lê Trung Hưng, hiện lưu giữ được nhiều di vật quí, có giá trị lịch sử và mỹ thuật cao. Tiêu biểu là chuông chùa Linh Thứu được đúc năm Chính Hòa thứ 25 (1704), chuông chùa Hồi Long được đúc năm Vĩnh Thịnh ngũ niên (1709), chuông chùa Hàm Long được đúc năm Cảnh Hưng thập tam niên (1752). Các Thạch thiên đài trụ các chùa Hàm Long được tạo năm Chính Hòa vạn tuế, (1680-1705), chùa Linh Quang được tạo dựng năm Kỷ Tỵ, niên hiệu Chính Hòa thứ 9 (1689), chùa Linh Thứu được tạo năm Chính Hòa thứ 20 (1700), chùa Diệp (tạo dựng năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711)... Đặc điểm của những Thạch thiên đài trụ, bia đá của các chùa trên đều được chạm khắc tinh xảo, với hình tượng chim phượng, long, mã, cỏ cây, hoa lá thiêng ở nhiều tư thế. Theo Hòa thượng Kim Cương Tử, chùa Linh Thứu được dựng trước thời Hậu Lê. Vườn chùa hiện còn hai mộ tháp sư Tổ, có ghi hiệu duệ hai vi danh Tăng Maha sa môn Tịnh Căn Thích Không Không luật sư, Lê triều Vĩnh Hựu sắc Tứ Tăng phó và Maha sa môn tự Hải Huệ Thích Thông Thông luật sư, Lê triều Cảnh Hưng (1740-1786) sắc tứ Tăng chính.
+ Chùa trên địa bàn quận Hải An: Thắng Phúc (Xâm Bồ), theo tư liệu ghi trên thạch trụ đài, niên hiệu Chính Hòa, được khởi dựng vào đầu từ thời Lê Hy Tông (1675-1705). Chùa là công trình kiến trúc nghệ thuật khá tiêu biểu và lưu giữ được nhiều di vật có giá trị. Chùa Hưng Khánh (Trung Hành), theo truyền ngôn, được dựng từ thời Lý - Trần, đến thế kỷ XVI, nhà Mạc cho xây dựng khang trang. Chùa được nhiều lăn trùng tu, tôn tạo, mở rộng (tháng 2-1674, 12-1687, 1771, 1847). Hiện chùa vẫn giữ được khá nguyên vẹn kiến trúc của thế kỷ XVII, giống như chùa Thầy ở Hà Nội và có nhiều di vật quý: Tượng La Hán cưỡi thú, Phổ Hiền Bồ tát ngồi trên bạch tượng (voi trắng), Văn Thù Bồ tát cưỡi thanh sư (sư tử xanh). Đáng chú ý, tượng vua nhà Mạc ngự trên ngai rồng, chế tác bằng đá quý liền khối, uy nghi... Hoa Linh tự (chùa Vẽ), gắn liền với vùng đất được khai phá từ thời Ngô Vương Quyền ở thế kỷ thứ X và Anh hùng dân tộc Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn với trận chiến trên sông Bạch Đằng năm 1288. Chùa là cơ sở của dòng thiền Trúc Lâm do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập, có ban thờ Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo. Chùa Hoa Linh là một công trình kiến trúc nghệ thuật có tiêu biểu, hiện còn lưu giữ được một số tượng pháp thế kỷ XVII.
Thời Lê Trung Hưng, nhìn chung Phật giáo không còn thịnh đạt như thời Lý-Trần nhưng vẫn có sự chuyển đổii phù hợp với tình hình xã hội phong kiến, với chế độ trung ương tập quyền cao. Sự hòa hợp với tín ngưỡng dân gian, với Nho giáo, Đạo giáo đã làm cho Phật giáo giữ vững vị thế đã bám sâu vào quốc gia và dân chúng Đại Việt hàng ngàn năm.


5. PHẬT GIÁO HẢI PHÒNG THỜI TÂY SƠN (1778-1802)
Từ giữa thế kỷ XVIII, cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn làm cho đất nước điêu tàn, nhân dân đói khổ. Phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn thắng lợi. Năm 1778, Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế lập triều Tây Sơn. Ngày 25 tháng 11 năm Mậu Thân (22 tháng 12 năm 1788), Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, niên hiệu Quang Trung, tiến quân ra Bắc Hà tiêu diệt quân xâm lược nhà Thanh, giải phóng Thăng Long. Đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới.
Vua Quang Trung tiến hành hàng loạt biện pháp tích cực: Điều tra dân số, đo lại ruộng đất, lập sổ địa bạ mới, chia ruộng làm ba loại: Tốt, trung bình, xấu. Các loại ruộng đất (công tư, hoang hóa, đền từ, Phật tự...) còn cày cấy được đều kiểm kê ghi vào sổ sách cẩn thận. Từ đó, chính quyền địa phương đề ra biện pháp khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp. Cảnh làng quê hoang tàn thời nội chiến Trinh - Nguyễn phân tranh và chiến tranh chống quân Thanh xâm lược trở lại đông đúc, xanh tươi. Nhiều nơi, sau ba năm khai hoang, phục hóa, nông dân mới phải nộp thuế cho nhà nước. Thuế nộp cho nhà nước người dân nộp bằng tiền hay hiện vật, có loại thấp hơn triều Lê - Trịnh tới hai ba phần. Hạn hán, lụt lội, mất mùa giảm dần. Sự nghiệp giáo dục được khôi phục và phát triển. Chữ Nôm được dùng trong các văn bản nhà nước.
Dưới thời Tây Sơn, chính sách văn hóa cũng như thực trạng tôn giáo, học hành, thi cử thể hiện rõ ý thức dân tộc. Vua Quang Trung noi theo đời Hậu Lê lo chấn hưng Phật giáo, chỉnh đốn lại việc dựng chùa, chỉ dạo cất chùa lớn có quy củ, gạn lọc các phần tử kém phẩm chất ra khỏi cửa thiền, buộc hoàn tục.
Trên địa bàn Hải Phòng, dân chúng các làng xã đã quyên góp tu sửa chùa chiền, đúc chuông, tạc tượng. Tiêu biểu là chùa Nguyệt Quang (phường Đông Khê), chùa Linh Quang (phường Đằng Giang) Quận Ngô Quyền, chùa Thái (xã Trấn Dương) huyện Vĩnh Bảo và chùa Bảo Phúc (Câu Tử ngoại, xã Hợp Thành) và chùa Tường Quang (Tả Quan, xã Dương Quan) huyện Thủy Nguyên... Mặc dù sau đó, nhiều di sản văn hóa được xây dựng thời Tây Sơn bị triều Nguyễn trả thù phá hủy triệt để, song qua khảo sát thực tế, trên địa bàn Hải Phòng, hiện vẫn còn trên mười chuông đồng và hàng chục Thạch Thiên đài trụ (bằng đá, một dạng bia đá) mang niên hiệu Cảnh Thịnh. Bài minh chuông chùa Diên Phúc (Thanh Lãng, Quảng Thanh, Thủy Nguyên) cho biết được đúc năm Cảnh Thịnh thứ 3 (1795). Chùa Thái (xã Trấn Dương), huyện Vĩnh Bảo, còn lưu giữ được hai chuông đồng thời Tây Sơn. Chuông thứ nhất mang tên “Quang Long tự chung” (chuông chùa Quang Long) có kích thước cao 0,90m, đường kính miệng 0,57m, dày 0,015m. Bài minh chuông ghi tên các thiện nam tín nữ ở địa phương Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Thái Bình, Nam Định... công đức tiền của để đúc chuông, để cầu nguyện âm siêu dương khánh và cho biết chuông được đúc vào năm Cảnh Thịnh thứ 6 (1798), hội chủ hưng công là bà họ Trần, hiệu là Từ Tường. Trong số tám quả chuông khắc ghi niên đại thời Tây Sơn còn lại ở Tiên Lãng, Thủy Nguyên, An Dương và Quận Ngô Quyền, đáng chú ý là chuông chùa Nguyệt Quang (Đông Khê) Quận Ngô Quyền, Hồi Long (Dãng Đông) huyện Thủy Nguyên, Phú Kê (huyện Tiên Lãng). Đặc biệt, chùa Linh Phúc (Nhân Lý), huyện Thủy

Nguyên, tại vườn tháp có bốn mộ tháp đều đặt xá lỵ của các vị sư, trong đó: ngôi tháp bên tả mang tên Phổ Đồng, cao ba tầng, có bài minh chữ Hán ca ngợi cảnh chùa, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8 (1801). Chùa Trúc Am (huyện Kiến Thuỵ) hiện nay còn chuông đồng (nặng 750kg, có niên đại muộn nhất đời Tây Sơn - Cảnh Thịnh thứ 9 (1802). Chùa Nguyệt Quang (phường Đông Khê), quận Ngô Quyền, có đại hồng chung, đúc năm Bảo Hưng 1-1802 (có sách viết là năm Cảnh Thịnh thứ 9).
Truyền thuyết ở làng Bảo Hà (xã Đồng Minh), huyện Vĩnh Bảo, cho biết, vào thời Tây Sơn, chính những người thợ tài hoa của phường thợ điêu khắc Bảo Hà đã được giao nhiệm vụ tạo tác 18 pho tượng Tổ (La Hán) nổi tiếng ở chùa Tây Phương (Hà Nội). Tương tự như vậy, huyền tích ở làng Tả Quan (xã Dương Quan) Thuỷ Nguyên, kể rằng, chùa làng có quy mô to lớn là do một vị đô đốc nhà Tây Sơn dốc tâm công đức tu bổ, tôn tạo. Tục truyền, sau khi triều Tây Sơn sụp đổ, vị đô đốc này đã về chùa mai danh ẩn tích và trở thành một trong những vị Tổ truyền đăng của chùa. Chiếc khánh đá được tạo năm Gia Long thứ 13 (1814) là di vật còn lại.
Đáng tiếc, Hoàng đế Quang Trung đột ngột qua đời ở tuổi 41. Bao dự định to lớn của người Anh hùng kiệt xuất của dân tộc chưa thực hiện được. Vua Cảnh Thịnh nối ngôi khi mới 10 tuổi. Tháng 7 năm 1802, triều Tây Sơn sụp đó do sự tiến công quyết liệt của thế lực phong kiến Nguyễn Ánh và phân liệt nội bộ. Phật giáo Việt Nam cũng bước sang một thời kỳ mới, với nhiều thăng trầm và thách thức.
Nguồn bài viết in trong sách: “Lịch sử Phật Giáo thành phố Hải Phòng”
Nxb Tôn Giáo

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây