Trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Thị Duệ xứng danh là Bà chúa Sao Sa mà vua Mạc đã đặt tên cho bà sau kỳ thi tiến sĩ tại Cao Bằng, đầu thế kỷ XVII. Bà là tấm gương phản chiếu ba đời vua Lê Trung Hưng.
Trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Thị Duệ xứng danh là Bà chúa Sao Sa mà vua Mạc đã đặt tên cho bà sau kỳ thi tiến sĩ tại Cao Bằng, đầu thế kỷ XVII. Bà là tấm gương phản chiếu ba đời vua Lê Trung Hưng. Trải qua 4 thế kỷ, bao phen binh hỏa, biết mấy đổi thay về chính trị, sự nghiệp của bà vẫn sống trong tâm khảm của từng thế hệ, vĩnh tồn với quê hương đất nước. Nhiều tư liệu ghi nhận công đức của bà, tuy có tiểu dị nhưng đại thể thống nhất về sự nghiệp. Sách, vở, bia ký và di tích tuy đã mai một nhiều nhưng phần còn lại cũng đủ để chúng ta hiểu những nét căn bản về danh nhân. Hiện nay phát hiện một số tư liệu viết về bà như: Hải Dương phong vật chí, Chí Linh phong vật chí, Lập phụng tự bi - Lưu truyền vạn đại, Chí Linh bát cổ bi, sắc phong thời Khải Định, chứng tích khảo cổ học... Từ những tư liệu trên có thể khái quát như sau: Nguyễn Thị Duệ còn có tên là Du, Ngọc Toàn, hiệu là Diệu Huyền, tên vua ban là Tinh Phi tức Sao Sa, là người con gái tài sắc, thông minh trác việt và đức độ hơn người. Bà sinh ngày 13 tháng 3 năm 1574, trong một gia đình hiếu học ở xã Kiệt Đặc (nay là phường Văn An, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Ngay từ thuở thiếu niên, bà đã tỏ ra có bản lĩnh và quyết đoán, được gia đình mời thầy họ Cao dạy học. Khi đến tuổi trăng tròn, trong làng có ông Nguyễn Quý Nha, làm quan triều, nhờ mối lái hỏi làm vợ, hỏi không ưng và trả lời bằng một bài thơ nôm, mang tính khôi hài và giễu cợt. Có người ngọn xứng bút văn Đỗ khoa Mậu Thìn, tuổi mới 20 Giận loài vàng đá hỗn hào Thẳng đem cánh phượng bay lên thạch thành. Năm Quang Hưng thứ 15 (Mạc Bảo Định Nguyên niên - 1592), quân triều đình Lê Trịnh chiếm được Thăng Long, quân Mạc rút về phía Đông thuộc trấn Hải Dương. Đầu năm Quang Hưng thứ 16 (1593), quân Lê Trịnh tấn công vùng Nam Sách, Chí Linh, nhà Mạc thất thủ phải rút khỏi Hải Dương, chạy lên Cao Bằng lập căn cứ. Năm đó, Nguyễn Thị Duệ 20 tuổi, đã cùng cha chạy theo vua Mạc. Tuy phải chạy loạn, bà vẫn chăm chỉ học hành, thể hiện một người có chí lớn. Bà nghĩ: “Rằng hay là kẻ có thân Che trên đã cậy trời xanh phủ trì”. Tại Cao Bằng, nhà Mạc mở khoa thi Hội, kén chọn nhân tài, sĩ tử ứng thí khá đông. Bà đã đóng giả trai đi thi cùng với thầy giáo của mình. Sau khi chấm bài, khớp phách bà được điểm cao, đỗ đầu, thầy giáo đỗ thứ hai. Cảm kích trước tài năng của người học trò ưu tú của mình, thầy nói: “Màu xanh từ màu lam mà ra nhưng đẹp hơn màu lam”. Khi vào dự yến tiệc, vua Mạc thấy diện mạo giống phụ nữ đã cho mời vào cung để điều tra, xét hỏi, phát hiện bà là một nữ nhi, biết sự thật đã không bị xử tội mà còn khuyến khích và nạp cung, lấy làm vợ vua. Khoảng năm Vĩnh Tộ thứ 7 (1625), quân Lê Trịnh do Đinh Văn Tả tiên phong, tiến đánh Cao Bằng, quân nhà Mạc đại bại. Nguyễn Thị Duệ ẩn trong hang núi, bị quân chúa Trịnh bắt được. Trước tình thế nguy khốn đó, bà vẫn bình tĩnh nói với quân chúa Trịnh: “Các ngươi đã bắt được ta, nên để ta đến gặp chúa của các ngươi, không được vô lễ. Nếu vô lễ chỉ có thanh kiếm này thôi, mà rút cục các ngươi cũng chẳng công trạng gì” Quân sĩ lấy làm lạ, dẫn vào tiến chúa, bà liền được quý mến, trọng dụng. Chúa Trịnh ban lệnh chỉ: Tiền đóng góp về binh lính, thuế tô ruộng công, thuế đò, thuế chợ cùng các thứ thuế khác (ở quê) để làm bổng lộc cho bà. Từ đó về sau, trải qua 20 năm, dân làng, không những sưu sai tạp dịch được miễn trừ mà còn được cấp 100 quan tiền và 2 mẫu ruộng tốt làm bổng lộc của bà. Sự việc này cũng được ghi trong tấm bia Lập Phụng tự bi tại chùa Phổ Chiếu, xã Kiệt Đặc, khắc dựng năm Thịnh Đức nguyên niên (1653), khi đó bà còn đang sống. Nhân dân Kiệt Đặc từ trên chí dưới được cảm tình của bà, lại chịu ơn ban ngoại lệ, nên đều một lòng kính trọng, tôn làm hậu thần. Bà xem kinh sách, thông suốt Phật giáo, hưởng bổng lộc nhiều nhưng sống rất thanh đạm. Bà lập ra quy ước: Những ngày giỗ tổ nội ngoại, sinh ngày (14-3), ngày hóa của bà khi trăm tuổi đều dùng cỗ chay, oản quả cúng lễ. Lễ đó truyền mãi về sau. Khi tuổi đã cao bà về trụ trì chùa Vụ Nông, huyện Gia Lâm. Khi thân quân Hoằng tổ Dương Vương (Trịnh Tạc) lên ngôi, cho tìm nữ học sĩ để dạy cung nhân, các quan triều đều đề cử bà. Dương Vương cho vời vào cung dạy cung nhân, gọi là Đức lão Lễ sư. Bất cứ điều gì trong hai triều Lê - Mạc, bà đều lấy văn chương phụng sự. Mỗi khi chúa có việc cần hỏi bà đều dẫn kinh sử, sự tích xưa nay để đối đáp, chúa thường khen gợi, cả đến quyển thi Hội, văn sớ quân thần đều qua tay bà xem xét, quyết định. Khoa Tân Mùi, niên hiệu Đức Long thứ 3 (1631), thi Đình, Nguyễn Minh Triết (còn có tên là Thọ Xuân), người xã Lạc Sơn, huyện Chí Linh đỗ đầu, văn chương ý nghĩa sâu sắc nhưng chữ lại xấu, không ai hiểu thấu. Vua hỏi ý kiến bà, bà trình bày rõ ràng, khen là người học rộng. Quá trình học tập Minh Triết người em họ của bà được kèm cặp, nhắc nhở nhiều, bà rất hiểu lực học của Minh Triết. Vì thế trước khi vào trường thi Minh Triết đã nói: “Văn của ta cả triều không ai hiểu hết đâu, họa chăng có chị ta là Lễ sư thôi”. Quả đúng như vậy. Tục truyền rằng, bà khéo khuyến khích người sau học tập. Mỗi tháng hai kỳ, sai người làm cỗ, họp sĩ tử Tư văn hàng huyện lại, cho tập làm văn. Đề bài do bà đề ra, rồi sai người từ kinh đô mang về, bài làm xong, giao nộp cho hội viên hội Tư văn niệm phong lại rồi mang nộp cho bà. Tự bà chấm bài, đúng hạn trả bài, đăng tên những người có bài và điểm lên bảng. Việc ra bài, làm bài thực hiện đều đặn. Đến đời Lê Trung Hưng, phong trào văn học được mở mang, nhiều người đỗ đại khoa nhờ từ bà, trong đó làng Kiệt Đặc có tới 3 người đỗ Tiến sĩ ở thế kỷ XVII. Đây có thể là sự mở đầu về học tập từ xa của nền giáo dục Việt Nam. Trong số lộc điền dọc theo sông Kinh Thầy, dân gian gọi là Dải yếm bà chúa Sao Sa, bà trích 10 mẫu để thưởng cho những tân tiến sĩ của làng cày cấy, thu hoa lợi nhằm khuyến khích người sau gắng sức học tập. Người anh ruột của bà bị một người làng giết hại, khi được giàu sang, vinh hiển, thế lực bà cũng không mang lòng thù oán, người đương thời đều khâm phục là người có đức độ. Gần 80 tuổi bà nhờ một người Trung Quốc dựng một am nhỏ trước mộ tổ, trên một đỉnh đồi thấp ở chân núi Phượng Hoàng, cách chùa Huyền Thiên 200m về phía Nam. Bà qua đời ngày 8 tháng 11, khi đã ngoài 80 tuổi, từng trải 3 đời vua: Lê Thần Tông (1619 - 1643), Lê Chân Tông (1643 - 1649), Lê Thần Tông tái nhiệm (1649 - 1662). Sau khi qua đời, di hài của bà được mai táng bên cạnh mộ tổ, trên xây một ngôi tháp hồng bằng gạch, từ xa đã nhìn rõ. Đến cuối triều Lê, tháp mộ của bà được xếp vào hàng Chí Linh bát cổ, nghĩa là một trong 8 di tích cổ nổi tiếng của huyện Chí Linh, có tên là Tinh Phi cổ tháp. Người đời sau có thơ ca ngợi về sự tích này: Lạ thay một kính chiếu ba vương Kiệt Đặc, Tinh Phi vốn cố hương Đẹp tuyệt trần gian, thêm sắc thảo Đỗ đầu thi Hội, nổi văn chương Mắt còn truyện ấy, thây dâu bể Mến trọng ơn này tự phấn hương Gia ký hai câu còn để lại Tháp hoa đầu núi mấy tinh sương (Nguyễn Huy Đại và Trần Thanh Giản dịch thơ) Người xa ca ngợi bà như Nghiêu Thuấn trong giới phụ nữ, thần tiên trong cõi đời. Nguyễn Thị Duệ để lại cho đời sau nhiều văn thơ, kể cả thơ nôm nhưng trải qua binh hỏa đã thất lạc hầu hết, nay chỉ còn vài câu thơ nôm trong gia ký, trong đó có câu: “Nữ nhi dù đặng có lề, Ắt là tay thiếp kém gì Trạng nguyên”. Bia Chí Linh bát cổ, khắc dựng năm Gia Long Nguyên niên (1802) có bài thơ bằng chữ hán, tạm dịch như sau: Tinh Phi cổ tháp Tay Ngọc bẻ cành cao Mặt gương in tháp cổ Từ xa núi sông này Đến nay còn âm u Hoa cỏ tự nở tàn Ngư tiều cùng vấn đáp Sắc núi vẫn trong xanh Tiếng thu sao xào xạc. Tinh Phi cổ tháp bị hư hại từ đầu thế kỷ XIX, ngày 25/5/1987, phần mộ bị kẻ gian khai quật tìm cổ vật, các nhà khảo cổ học đã có mặt kịp thời để nghiên cứu và khôi phục. Mộ có quách bằng đá cát, kích thước 78cm x 75cm x 20cm, hướng Bắc Nam. Quan tài bằng gỗ đã phân hủy gần hết. Trong quan tài còn một kẹp trầu bằng đồng, hiện vật thường thấy trong mộ danh nhân cao tuổi thời Hậu Lê. Tại đình Kiệt Đặc còn một pho tượng khá đẹp gọi là tượng Vua Bà, tức tượng Nguyễn Thị Duệ và một sắc phong có nội dung như sau: Dịch nghĩa: Xã Kiệt Đặc Đoài, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, thờ phụng Chánh vương phủ, thị nội cung tần, lễ sư Nguyễn Thị Ngọc tôn thần, người có công giúp nước, che chở cho dân, rất linh ứng từ xưa, nay đúng lúc Trẫm mừng tuổi 40, liền ra bảo chiếu, kịp ban ơn lớn, lễ trọng thăng trật, phong là Tề tĩnh, dực bảo trung hưng, trung đẳng thần, chuẩn theo mà thờ phụng, thần sẽ bảo trợ cho dân chúng của ta. Kính cẩn thi hành. Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) Trong lịch sử dân tộc, Nguyễn Thị Duệ là ngôi sao sáng trên bầu trời Việt Nam về tài sắc và đức độ, Người nữ tiến sĩ đầu tiên của đất nước đầy bản lĩnh và tự tin, tiên phong trong việc giải phóng phụ nữ, trước hết là tự giải phóng mình, rạng danh cho giới nữ đất Việt. Bà là người đầu tiên trong lịch sử giáo dục nước nhà thực hiện dạy học từ xa mà sau 4 thế kỷ chúng ta mới thực hiện sự thừa kế và phát huy. Trong quá trình nghiên cứu văn bia tỉnh Hải Dương, chúng tôi đã phát hiện tấm bia có tựa đề Lập phụng tự bi - Lưu truyền vạn đại qua thư mục của Viện Thông tin KHXH từ nhiều năm trước. Văn bia có nội dung quan hệ trực tiếp tới bà Nguyễn Thị Duệ, quê xã Kiệt Đặc (nay thuộc phường Văn An, thị xã Chí Linh), bia đã có một số học giả nghiên cứu nhưng lại ít quan tâm tới nhân vật lịch sử này. Gần đây, Hội sử học Hải Dương tìm được bản chụp thác bản, có điều kiện lịch sử hoàn chỉnh. Đây là tư liệu vô cùng quan trọng cho việc nghiên cứu tiểu sử nữ tiến sĩ đầu tiên của nước nhà mà gần đây vẫn có học giả cho rằng chỉ là truyền thuyết. Nguồn: Bài viết in trong cuốn: Văn miếu Mao Điền di tích - danh nhân và lễ hội