THƠ THIỀN THỜI LÝ

Chủ nhật - 09/03/2025 21:56
Phật giáo vẫn tồn tại, kể cả trong thời kỳ Bắc thuộc. Cho mãi đến thế kỷ X, khi dân tộc ta thoát khỏi ách thống trị đô hộ của Trung Quốc, kỷ nguyên độc lập của nước nhà được xác định, lịch sử đất nước được sang trang, Phật giáo cũng bước vào thời đại mới - thời đại quân chủ độc lập phát triển.
z6391206934874 7d4cd4e8e0a9712a7c605e020372b15e
Hoà thượng Thích Thanh Giác phó trưởng ban thường trực ban trị sự giáo hội Việt Nam thành phố Hải Phòng giới thiệu về thơ thiền

            Phật giáo vẫn tồn tại, kể cả trong thời kỳ Bắc thuộc. Cho mãi đến thế kỷ X, khi dân tộc ta thoát khỏi ách thống trị đô hộ của Trung Quốc, kỷ nguyên độc lập của nước nhà được xác định, lịch sử đất nước được sang trang, Phật giáo cũng bước vào thời đại mới - thời đại quân chủ độc lập phát triển.
            Khởi nguyên thời Lý từ thế kỷ X, song mãi tới đầu thế kỷ XI đất nước mới chính thức bước vào thời kỳ ổn định phát triển trên các mặt chính trị - kinh tế - văn hóa - quốc phòng. Nhờ thuận duyên ấy mà Phật giáo được phát triển đạt tới đỉnh cao vàng son nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Đây là thời kỳ “Phật giáo là quốc giáo” bỏ xa vị trí nên chính trường của Nho và Lão giáo. Đáp lại ân huệ của Phật giáo, từ vua Lý Thái Tổ đến các vua kế tiếp đã hết lòng vì Phật pháp bằng việc làm thiết thực: xây dựng nhiều chùa chiền, tạc tượng, đúc chuông, thỉnh kinh tạng từ Trung Quốc, cấp độ điệp cho tăng ny xuất gia, mở trường thuyết pháp, tổ chức nhiều cuộc đàm thoại Phật pháp - Hội vô già v.v… Sự kiện này được diễn ra trong cung đình, các chốn chùa chiền từ kinh đô thành thị cho đến làng quê. Từ vua quan cho đến thứ dân đều tín kính Phật pháp, chùa được coi là trường học của cả cộng đồng. Các thiền sư là thầy mẫn tiệp hướng dẫn Phật pháp. Bởi các Ngài là những bậc thiện hữu tri thức dung thông “Tục - Đạo”, “Nhập Nho xuất Thích”. Với tinh thần “tùy tục”, “Phật pháp tại thế gian” đã góp phần to lớn trong công cuộc xây dựng đất nước an bình thịnh vượng theo định hướng tự chủ độc lập và phát triển, làm nền móng vững chắc cho các triều đại mai sau.
            I - TÁC GIẢ, TÁC PHẨM THƠ THIỀN TỪ THỜI ĐINH ĐẾN THỜI LÝ
            1 - Tác giả
            Theo Nguyễn Phạm Hùng trong cuốn “Thơ thiền Việt Nam - những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật” cứ liệu hiện có 73 tác giả văn học thời Lý (tính cả thế kỷ X) trong đó có 49 tác giả văn học Phật giáo, lực lượng sáng tác chủ yếu là các nhà tu hành. Các tăng sĩ thời kỳ này đều không tam giáo “Nho - Đạo - Thích”. Tiêu biểu như Khuông Việt, Vạn Hạnh, Đạo Hạnh, Không Lộ. Số người đi tu từ nhỏ không nhiều như Định Hương, Thiền Lão, Pháp Bảo, Giới Không v.v… Phần lớn lúc nhỏ theo Nho giáo, lớn lên xuất gia theo Phật cho nên rất am tường Nho và Lão giáo. Vì vậy, thơ Thiền của các Ngài cũng mang đậm phong cách Nho và Lão giáo. Bên cạnh còn có một số Thiền sư tham gia công tác chính trị ngoại giao như: Khuông Việt, Đỗ Pháp Thuận, Vạn Hạnh. Có nhiều người đã làm quan hay dòng dõi quan lại hoàng tộc như: Khuông Việt, Viên Chiếu, Mãn Giác, Diệu Nhân, Trí Thiền v.v… Điều nổi bật là hầu hết các thiền sư - thi sỹ không bị nhốt chặt trong khuôn khổ chùa chiền mà bứt phá ra ngoài mở rộng sự nhận thức tới các lĩnh vực khác của tư tưởng văn hóa xã hội. Mở rộng phạm vi hoạt động, nói một cách khác là các thiền sư đã khéo vận dụng Phật pháp vào thế gian pháp hiện thực trong đời sống nhân sinh ở các lĩnh vực, chính trị, kinh tế, văn học, ngoại giao… Trong tinh thần “Hòa quang đồng trần” mà không phải tôn giáo nào trên đất Việt cũng làm được. Đó là tính “độc nhất vô nhị” của Phật giáo Việt Nam.
            2 - Tác phẩm
            Thơ thiền thời Lý chủ yếu là “Kệ” , nội dung trình bày về triết lý và quan niệm thiền. Loại thơ thuộc triết lý chiếm 94% tổng số đơn vị tác phẩm. Còn lại thơ Thiền trữ tình có 6%. Phổ biến nhất vẫn là thơ 4 câu (Tứ cú kệ) chiếm 70%, 30% còn lại là thơ từ 2 đến 12 câu, phổ thông vẫn là thơ thất ngôn và ngũ ngôn. (Nguyễn Phạm Hùng, Thơ Thiền Việt Nam - những vấn đề lịch sử và tư tưởng nghệ thuật).
            + Hoàn cảnh sáng tác: Thơ Thiền thời Lý chủ yếu là “Kệ”, thường được sáng tác trước khi các thiền sư “Viên tịch” hay bùng nổ giác ngộ tâm Phật. Nó phù hợp với đầu đề người sau đặt cho như: Thị đệ tử, Thị tịch, Thị đạo, Thị chúng, Vấn đáp, Trình, Tán…
            + Đề tài: Chủ yếu đề cập tới phạm trù cơ bản như: Thân, Tâm, Pháp, Tướng, Tăng, Đạo, Hữu, Vô, Sinh, Tử… thuần túy triết học.
            + Chủ đề: Ca ngợi tán dương khẳng định chân lý Phật giáo và các tấm gương mẫu mực trong đời sống đạo.
            + Nội dung: Chủ yếu giải thích triết lý tư tưởng của Phật giáo, tán thán công đức của Tam Bảo và thể hiện cảm xúc với thiên nhiên, cuộc sống, nhân dân, thế sự, cuộc sống tu hành.
            + Hình thức: Nghệ thuật ít nhiều tiếp thu của Trung Quốc, ngôn ngữ chân chất, mộc mạc giản dị, ngắn gọn, không cầu kỳ, tránh được “văn phiền tắc yếm” mà trong văn học thường lưu ý.
            II - CÁC TÁC GIẢ THƠ THIỀN TIÊU BIỂU
                        1 - THIỀN SƯ ĐỖ PHÁP THUẬN (914 - 990)
                        2 - ĐẠI SƯ KHUÔNG VIỆT (933 - 1011)
                        3 - THIỀN SƯ VẠN HẠNH (? - 1025)
                        4 - THIỀN SƯ VẠN CHIẾU (999 - 1090)
                        5 - THIỀN SƯ TỪ ĐẠO HẠNH (? - 1117)
                        6 - THIỀN SƯ HUỆ SINH (? - 1046)
                        7 - THIỀN SƯ MÃN GIÁC (1052 - 1096)
                        8 - THIỀN SƯ KHÔNG LỘ (? - 1119)
                        9 - NI SƯ DIỆU NHÂN (1042 - 1113)
                        10 - THIỀN SƯ GIÁC HẢI
                        11 - THIỀN SƯ ĐẠI XẢ (1120 - 1180)
                        12 - THIỀN SƯ TRƯỜNG NGUYÊN (1110 - 1165)
                        13 - THIỀN SƯ QUẢNG NGHIÊM (1122 - 1190)
Tác giả : Hòa Thượng Thích Thanh Giác – Phó Trưởng Ban Thường trực – Ban trị Sự giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành Phố Hải Phòng
           
 

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây