Mây trắng ngàn năm vẫn bay

Thứ hai - 07/07/2025 23:54

Mây trắng ngàn năm vẫn bay

Mây trắng ngàn năm vẫn bay
Người Hải Phòng tự hào và bồi hồi xúc động khi nghĩ đến một con người khả kính đã làm rạng danh nước Việt về phương diện văn hóa.Tại đền Trạng Trình trên quê hương ông, qua làn hương thơm của trầm nhang nghi ngút, tâm thức của người đất Cảng đều ngược về quá khứ để gặp lại trong trái tim mình một nhân cách cao thượng, một trí tuệ mẫn tiệp của vĩ nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Nhà thơ - nhà giáo: Đoàn Minh Ngọc

Người Hải Phòng tự hào và bồi hồi xúc động khi nghĩ đến một con người khả kính đã làm rạng danh nước Việt về phương diện văn hóa.Tại đền Trạng Trình trên quê hương ông, qua làn hương thơm của trầm nhang nghi ngút, tâm thức của người đất Cảng đều ngược về quá khứ để gặp lại trong trái tim mình một nhân cách cao thượng, một trí tuệ mẫn tiệp của vĩ nhân Nguyễn Bỉnh Khiêm.

I. LO NƯỚC THƯƠNG ĐỜI - TƯ TƯỞNG LỚN LAO, HOÀI BÃO SUỐT ĐỜI - CỦA NGUYỄN BỈNH KHIÊM

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh vào năm Hồng Đức thứ 21 (tức năm Tân Hợi 1491) tại làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng, húy là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ.

Ông sinh trưởng trong một gia đình tri thức phong kiến. Phụ thân là Nguyễn Văn Định, đạo hiệu Cù Xuyên tiên sinh, nổi tiếng là người học rộng, tài cao, đức độ. Thân mẫu là Nhữ Thị Thục - con gái quan Thượng thư Bộ hộ Nhữ Văn Lan - người làng An Tử Hạ, huyện Tiên Minh, nay là xã Kiến Thiết, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng, cũng nổi tiếng là người thông minh, học rộng, văn hay, lại tinh cả môn tướng số.

Thuở nhỏ, Ông là người có tướng mạo khác thường, thông minh, hiếu học. Ông nhớ nhiều kinh truyện, thơ quốc âm do hiền mẫu dạy. Lớn lên, Ông thụ giáo thấy Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, được thầy truyền dạy môn học Dịch lý và sách Thái Ất thần kinh nên Ông hiểu được lẽ huyền bí của trời đất, cuộc đời.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà trí thức thức thời và có tư tưởng cao khiết, lo nước, thương đời. Xã hội phong kiến nhà Lê đạt đến độ cực thịnh ở thời Hồng Đức. Ánh hào quang chói ngời của nhà Lê đến thời Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ còn là dư ảnh. Sự xuống dốc và tàn suy của xã hội phong kiến lúc này đã ảnh hưởng đến khát vọng nhập thế của các nhà nho chân chính. Đất nước không còn cảnh thanh bình, thay vào đó là cảnh máu chảy thành sông, xương chất như núi của một thời loạn lạc, đã làm nhức nhối tấm lòng lo nước thương đời của Ông. Ông ẩn chí, chờ thời. Nhà Mạc trị vì xã hội, có những cải cách tiến bộ làm thay đổi đất nước. Vượt qua được quan niệm chính thống hướng về nhà Lê, đặt niềm tin vào nhà Mạc, dù đã 45 tuổi, ông vẫn thi đỗ Trạng nguyên (1535) thời Mạc Đăng Doanh, được bổ chức Đông các hiệu thư. Về sau thăng Tả thị lang Bộ hình kiêm Đông các đại học sĩ. Ông làm quan với nhà Mạc được 8 năm (từ 1535 đến 1542) dưới thời Mạc Phúc Hải. Triều đình lại chia bè phái, bọn gian tà lộng hành, ông dâng sớ chém 18 lộng thân nhưng không được chấp nhận bèn trả lại áo mũ về trí sĩ tại quê nhà. Mạc Phúc Hải gia phong ông là Trình tuyền hầu, người đời quen gọi là Trạng Trình. Ông về lập quán Trung Tân, dựng am Bạch Vân, hiệu là Bạch Vân cư sĩ và mở trường dạy học. Vũ Khâm Lân và Phan Huy Chú đều viết “Ông tuy ở nhà, nhưng vua Mạc vẫn tôn kính như bậc thầy. Khi trong nước có việc gì quan trọng, triều đình vẫn sai sứ đến hỏi ông. Có lúc triệu ông về kinh hỏi ông về những mưu kế lớn. Rồi ông lại về am...”. Ông đã lựa lời khuyên các tập đoàn phong kiến đương thời ngừng nạn đao binh, ổn định xã hội để làm sao giảm nỗi đau khổ của lương dân, thực hiện niềm mong ước canh cánh bên lòng: Bao giờ lại thấy cảnh thịnh trị/ Trời đất như xưa một vẻ thái hòa (Thơ chữ Hán).

Trước sau, Nguyễn Bỉnh Khiêm qua hành động của mình, dù trong hoàn cảnh nào cũng đều hướng tới nước, tới dân. Tư tưởng lớn này là cơ sở cho cái nhìn, cái nghĩ, cái cảm của ông về cuộc đời: Cổ lai quốc dĩ dân vi bản/ Đắc quốc ưng tri tại đắc dân (Từ xưa tới nay nước lấy dân làm gốc/ Được nước nên biết là ở chỗ được lòng dân). (Cảm hứng, Thơ chữ Hán).

Trái tim lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm ngừng đập tại quê nhà vào năm Ất Dậu 1585, thọ 95 tuổi. Vua nhà Mạc sai Mạc Kinh Điển làm Khâm sai, cùng các quan về dự tế, truy phong ông làm Thượng thư Bộ lại, Thái phó Trình Quốc công, ban cho sở tại ba nghìn quan tiền để lập đền thờ và cấp một trăm mẫu ruộng để thờ cúng. Vua đề trước cửa đền thờ: “Mạc triều Trạng nguyên Tể tưởng từ”.

II. NGUYỄN BỈNH KHIÊM LÀ NHÀ THƠ TRIẾT LÝ, GIÁO HUẤN ĐẠO LÝ VỀ THẾ SỰ

Nhà thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm sống gần trọn một thế kỷ, là cây đại thụ của thế kỷ XVI. Vì thế ông như chứng nhân lịch sử thấu hiểu về những tháng năm đau thương kéo dài và đầy biến động của đất nước. Đến với thơ là một cách Ông biểu hiện lòng mình về cuộc đời. Trong lời tựa tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “...nói đến cái tâm chính là nói đến cái chí phải hướng tới. Làm thơ là để nói cái chí đó”. Về cảm hứng thơ, mục đích làm thơ của mình, ông cũng nói rõ: “...mỗi lúc thong thả, liền mượn hứng ngâm nga, rồi hoặc tả cảnh đẹp non sông, hoặc tả cây hoa tươi tốt, hoặc tức cảnh mà ngụ ý, hoặc tức sự mà thuật hoài, đều qua lời thơ nêu lên cái chí của mình, được khoảng nghìn bài”. Theo Bùi Văn Nguyên thống kê thì tập thơ chữ Hán Bạch Vân am thi tập còn 591 bài và tập thơ nôm Bạch Vân quốc ngữ thi có 177 bài. Theo sách “Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm - Tổng tập” của Phòng Văn học Việt Nam Cổ Trung đại - Viện Văn học - Hội đồng Lịch sử Hải Phòng - Nhà xuất bản Văn học - 2015 thì Nguyễn Bỉnh Khiêm có 3 bài văn và 513 bài thơ chữ Hán; 151 bài thơ chữ Nôm.

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ lớn của thế kỷ XVI. Nét đặc sắc nổi bật của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là tính triết lí đậm màu sắc giáo huấn đạo lí về thế sự.

1) Chiến tranh phong kiến phi nghĩa và bọn thống trị đương thời trong thơ triết lý của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phan Huy Chú nhận xét về con người văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Lòng lo thời thương đời thể hiện ra ở văn thơ. Văn chương ông tự nhiên, nói ra là thành, không cần gọt giũa, giản dị mà linh hoạt, không màu mè mà có ý vị, đều có quan hệ đến việc dạy đời”.

Những cuộc nội chiến kéo dài của các tập đoàn phong kiến vì quyền lợi riêng đã tạo ra bao thảm cảnh trong xã hội. Bức tranh đau thương của chiến tranh phi nghĩa được ông khái quát trong bài thơ chữ Hán: “... Một vùng từ Đông đến Nam/ Ruộng lúa không cấy hái/ Chinh chiến kế tiếp nhau/ Họa hoạn đến thế là cùng cực/ Không nơi nào tìm thấy, đầu mối của lòng thương xót/ Chỉ có loài quỷ thích giết chóc hoành hành/ Nhà ở bẻ làm củi/ Trâu cày mỗ thịt ăn/ Cướp đoạt tài sản không phải là của mình/ Hiếp dỗ người không phải là vợ mình/ Mắt thấy nơi nơi đều lầm than/ Đi qua mọi chốn đều um tùm gai góc”... (Thương loạn).

Còn nhiều thơ khác nói về nỗi buồn binh đao thời loạn của Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhưng chỉ qua đoạn thơ dịch đã nêu, có thể thấy rõ thái độ rõ ràng của Ông với chiến tranh phong kiến: xúc động trước thảm cảnh do chiến tranh gây nên, lòng xót thương với nhân dân đau khổ và lên án những kẻ gây ra tai họa trên.

Đẩy người dân đến con đường cùng, tai họa không nhỏ này do bọn quyền thế gây ra. Bằng cách nói ẩn dụ, Nguyễn Bỉnh Khiêm khéo léo lên án bọn thống trị, biểu hiện lòng thương dân qua bài thơ Tăng thử (Ghét chuột): “…Loài chuột lớn kia sao bất nhân/ Lén lút gây ra mưu mô độc ác/ Khiến cho ngoài đồng chỉ trơ rơm khô/ Cho kho đụn kiệt gạo thóc.../ Đục khoét nền thành, nền thờ và xà tắc làm việc gian giảo”.

Như một tất yếu, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định mạnh mẽ số phận phải đến đối với bọn quyền thế: “Xác bọn mi bêu đầu ở triều đình và chợ búa/ Cho quạ và diều ria hết thịt bọn mi”..

Hòa bình cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân là khát vọng mãnh liệt của Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc bấy giờ. Từ những lời thơ trên, ý nghĩa giáo huấn thật sâu sắc.

 

 

2) Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm triết lí về thói đời đen bạc

Trên đường suy tàn của xã hội phong kiến, xuất hiện một “thói đời” đen bạc trong các quan hệ xã hội và đời sống được Nguyễn Bỉnh Khiêm nhìn từ góc độ đạo lý.

Sự đảo điên của cuộc đời đã tạo ra sắc vị tình người đa dạng của “thói đời” xấu xa: “Thế gian biến cải vũng nên đồi/ Mặn, ngọt, chua, cay lẫn ngọt bùi” (Thơ Nôm, 71).

Quan hệ giữa người và người đã dựa trên một tiêu chí khác: “Còn bạc còn tiền còn đệ tử/ Hết cơm hết rượu hết ông tôi” (Thơ Nôm, 71). Hoặc xu phụ, theo thời: “Được thời, thân thích chen chân đến/ Thất thế, hương lư mặt ngoảnh đi” (Thơ Nôm, 51).

Khi đồng tiền lăn tròn lên lương tâm của con người, làm băng hoại đạo đức xã hội, sự đánh giá về tình người theo điều kiện lạnh lùng: “Người, của lấy cân ta thử nhắc/ Mới hay rằng của nặng hơn người” (Thơ Nôm, 74).

Con đường phú quý, công danh đang được bọn xu thời chen lấn, giành giật thì Nguyễn Bỉnh Khiêm khéo léo nhắc nhẹ: “Đường danh lợi có chông gai” (Thơ Nôm, 40). Ông giữ mình trong sáng về mọi mặt như tấm gương đạo đức sáng ngời để người đời soi chung. Nếm trải vị đắng cay của cuộc đời để giữ vững đạo lí tốt đẹp của mình, chính là bài học giáo huấn thiết thực được rút ra từ thơ triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

3) Triết lí về chữ nhàn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trong xã hội phong kiến, thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đậm đà tính triết lí về một quan niệm nhân sinh tích cực.

Quan niệm “xuất xử” vốn là lẽ thường tình đối với các nhà nho, nhất là khi xử. Khi về trí sĩ, ai cũng chỉ giữ thanh sạch về nhân cách mà ít quan tâm đến thời thế. Ở Nguyễn Bỉnh Khiêm có khác. Sự tĩnh lặng của những ngày nhàn, là dịp ông tỉnh táo giữ nghĩ lại những cảnh đời, tình người để thêm hiểu mình và hiểu người lấp lánh từ những vần thơ triết lí ngời lên vẻ đẹp của một quan niệm nhân sinh tích cực.

Ông hòa vào thiên nhiên tươi đẹp và coi thiên nhiên như bạn cố tri: “Trăng thanh gió mát là tương thức/ Nước biếc non xanh ấy cố tri” (Thơ Nôm, 84).

Sống tiêu dao thanh thoát qua những sinh hoạt hằng ngày: “Một mai, một cuốc, một cần câu” (Thơ Nôm, 73).

Thiên nhiên thay đổi theo quy luật cũng như cuộc đời có những biến chuyển: “Sen, mùa trước đối, mùa sau mọc/Triều, cửa này ròng, cửa khác cường” (Thơ Nôm, 98).

Thoát khỏi sự tù túng của ngày nhàn, ông vui với tạo vật nên thơ, tuân theo quy luật của lẽ biến thiên, tìm ra bản chất của cái đẹp của sự sống để có một cách sống khác và hơn người: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao” (Thơ Nôm, 73).

Những vần thơ nhàn đã thanh lọc tâm hồn Ông, tỏa ánh sáng nhân sinh cao đẹp của Ông đã có sự cảm hóa sâu sắc từ những lời giáo huấn chân xác.

4) Lời tiên tri - dự báo của Nguyên Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà tiên tri, dự báo, về một số việc xảy ra trong cuộc sống có những diễn biến phức tạp, Trong gian tiền đường của nhà thờ Nguyễn Bỉnh Khiêm có bốn chữ Hán “An Nam Lý học”. Sứ giả nhà Thanh là Chu Xán cũng thừa nhận “An Nam Lý học hữu Trình Tuyền”. Lớp sương mờ huyền thoại phủ lên những câu chuyện về Ông, về Sấm Ký của Ông bởi sự ngưỡng vọng của người đời với Ông, đã có một số điều được lý giải thuyết phục. Những lời gợi ý của Ông cho nhà Nguyễn dung thân ở giải Hoành Sơn, cho nhà Mạc tồn tại thêm ở Cao Bằng đã được truyền tụng. Sự tiên đoán của Ông về việc Trịnh Tuy và Mạc Đăng Dung có ý định áp chế nhà vua để sai khiến chư hầu nên nhiều lần đánh nhau làm rối loạn đất nước đã được Phan Huy Chú chép trong Lịch triều hiến chương loại chí. Lê Dư trong Quốc văn tùng san có chép lại bài thơ bóng gió nói tới những địa danh của cuộc khởi nghĩa Yên Bái (chú ý những chữ in đứng trong bài thơ): “Khi cơn gió thổi lá rung cây/ Rung Bắc, rung Nam, Đông tới Tây./ Tan tác Kiến kiều, An đất nước/ Xác xơ Cổ thụ, sạch Am mây/ Sơn Lâm nổi sóng, mù Thao cát/ Hưng địa tràn dâng, Hóa nước đầy/ Một gió một Yên, ai sùng Bái/ Cha con người Vĩnh, Bảo cho hay”.

Có phải những hiện tượng xảy ra trong lịch sử dân tộc đã được giải thích bằng một cách huyền bí. Nguyễn Bỉnh Khiêm tinh thông Dịch lý - những luận điểm triết học như tương sinh, tương khắc, biến dịch tuần hoàn, âm suy dương trưởng, tạo hóa cơ giảm... là cơ sở để Ông suy nghĩ đều có nguồn gốc từ Kinh dịchLý học. Nguyễn Bỉnh Khiêm lại sống trong thời tao loạn, biến động dữ dội nên Ông luôn luôn khát vọng những thăng trầm của lịch sử sẽ qua đi để đất nước thanh bình trở lại và phát triển tốt đẹp. Từ thực tế cuộc đời mà Ông từng trải, được soi tỏ từ triết lí của Kinh dịchLý học nên con người thông tuệ ấy có những câu nói, lời thơ như tiên tri, dự báo chăng?

III. NGUYỄN BỈNH KHIÊM TRONG TÂM THỨC CỦA NHÂN DÂN

Do đức sáng, kiến thức uyên thâm, có uy vọng trong xã hội, Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm được học trò theo học rất đông. Nhiều người trong số đó đã đỗ cao, làm quan to, viết văn thơ nổi tiếng, có uy tín lẫy lừng trong xã hội được các thế hệ tiếp nối kính trọng như Nguyễn Quyện, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Dữ, Đinh Thì Trung, Trương Thì Cử...

 

Khi Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm mất, các môn sinh về lễ rất đông và tôn thầy là Tuyết Giang phu tử trong niềm sủng ái lớn lao. Đinh Thì Trung làm bài Văn tế Tuyết Giang phu tử và do Trương Thì Cử đọc.

Hình ảnh người thầy vẫn còn đọng mãi trong tâm khảm của học trò một thuở, gắn liền với công tích của Thầy trong những năm cuối đời:

... Chợ nọ đến phiên vẫn họp, khách qua lại huyên náo, mà Tiên sinh âm hưởng vắng không;

Chùa kia nền cũ vẫn nguyên, tòa tượng Phật nghiêm trang, tưởng Tiên sinh dung nghi còn đó.

Bia đá Tiên sinh dụng, nhớ Tiên sinh muốn tìm dấu cũ, thì nét chữ mịt mờ, rêu lan mặt đá, ngấm tàn phai.

Cây đa Tiên sinh trồng, nhớ Tiên sinh muốn ngắm cảnh xưa, thì cành lá lơ thơ, tuyết rủ đầu cây, hình cổ thụ

Hàn Giang là chỗ Tiên sinh ở, tưởng Tiên sinh bên sông ấy, chỉ thấy nước xuống, nước lên.

Bạch Vân là tên Tiên sinh đặt, tưởng Tiên sinh trên mây kia, chỉ thấy mây tan, mây tụ.

Nhưng Tiên sinh há những như mây, Tiên sinh là bóng thu dương.

Tiên sinh há những như sông, Tiên sinh là sông Giang Hán.

Tiếng Tiên sinh không bao giờ mất, tức là bóng thu dương sáng mãi, nước Giang Hán chảy tràn.

Mà Tiên Sinh há những như cây, Tiên sinh là khu rừng lớn.

Tiên sinh há những như đá, Tiên sinh là núi Thái Sơn;

Đạo Tiên sinh muôn thuở vẫn còn, tức là khu rừng lớn tươi tốt, núi Thái Sơn củng cố...”

(Văn tế Tuyết Giang phu tử)

 

Hiền tài là nguyên khí quốc gia (Thân Nhân Trung). Đào tạo nhân tài cho đất nước là việc hệ trọng và cần thiết. Nghĩ về điều này, càng thấy Tuyết Giang phu tử có công lớn với đất nước với dân tộc, xứng là một trong hai đấng phu tử của Việt Nam, mãi mãi được tôn vinh và kính trọng.

 

ĐMN

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây