Các thế hệ truyền đăng và danh tăng sơn môn Tế Xuyên - Bảo khám ở Tỉnh Hà Nam

Thứ ba - 19/08/2025 21:56
Theo các nguồn tư liệu hiện có, chùa Tế Xuyên (Bảo Khám Tự) được xây dựng từ thời Lý nhưng các tài liệu ghi chép không nhiều. Một nguồn tài liệu cho biết năm 1770, một vị phu nhân của chúa Trịnh Sâm, tên là An Hòa, người ở Tế Xuyên đã đóng góp tiền của, ruộng đất để tu sửa lại chùa.
Các thế hệ truyền đăng và danh tăng sơn môn Tế Xuyên - Bảo khám ở Tỉnh Hà Nam
Các thế hệ truyền đăng và danh tăng sơn môn Tế Xuyên - Bảo khám ở Tỉnh Hà Nam

Hòa thượng, TS. Thích Bảo Nghiêm

Phó Chủ tịch Hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trưởng ban Hoằng pháp Trung ương

Tóm tắt: Theo các nguồn tư liệu hiện có, chùa Tế Xuyên (Bảo Khám Tự) được xây dựng từ thời Lý nhưng các tài liệu ghi chép không nhiều. Một nguồn tài liệu cho biết năm 1770, một vị phu nhân của chúa Trịnh Sâm, tên là An Hòa, người ở Tế Xuyên đã đóng góp tiền của, ruộng đất để tu sửa lại chùa. Tiếp theo, các thế hệ sư tăng trụ trì, tu hành tại đây đã đóng góp nhiều công sức để chùa Tế Xuyên trở thành chốn Tổ của nhiều sơn môn trong khu vực và cũng là nơi phát xuất của nhiều danh tăng Phật giáo Việt Nam. Trong khuôn khổ của bài viết này, chúng tôi bước đầu giới thiệu giai đoạn thành lập sơn môn Tế Xuyên và các thế hệ truyền đăng, danh Tăng của sơn môn từ khi thành lập đến nay.

DẪN NHẬP

Cũng như nhiều ngôi chùa Việt Nam khác, Tổ đình Tế Xuyên - Bảo Khám đã được các vị tiền bối khai sáng tạo dựng nên, làm nơi quy hướng tâm linh hướng về tinh thần từ bi - trí tuệ - nhẫn nhục - hỷ xả - đoàn kết hòa hợp của Đức Phật, với mục đích để mọi người cùng nhau xây dựng quê hương, giáo dục con cháu sống cuộc sống hữu ích, tốt đạo đẹp đời.

Căn cứ vào phần Lịch sử truyền đăng chùa Bảo Khám, Sơn môn Tế Xuyên xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam được viết bằng chữ Nôm đính sau cuốn Bảo Khám Tự cúng Tổ khoa, văn bia Bảo Khám tự tiền tu công đức bị ký, đặc biệt là Thiền phả Bảo Khám Tự cúng Tổ khoa cùng các bài tựa bạt kiêm phương danh pháp cúng, giới điệp, hoành liễn còn lưu giữ tại chùa, kết hợp với lời kể của người dân địa phương thì hiện nay, ngoài việc thờ Phật, Sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám còn thờ các vị Thiền tổ, song thân phụ mẫu các đời Thiền tổ, Pháp quyến tông đồ thuộc Sơn môn pháp phái đã từng tu hành ở đây. Ngoài ra, chùa còn phối thờ bà Hoàng phi của chúa Trịnh Sâm - người đã khởi tâm đóng góp tiền của, ruộng đất để tu sửa lại chùa. Ngoài việc tập tăng Bá tát1, an cư kiết hạ, khai tràng thuyết pháp tu học, chùa Bảo Khám còn là một trung tâm khắc in và ấn tống rất nhiều bộ kinh luật cốt tủy của Phật giáo, đây là nơi tàng bản ván khắc hơn 10 đầu kinh luật để các chùa trong trấn phủ về ấn tống, cũng là thư viện lưu giữ hàng ngàn bộ kinh được in từ mộc bản phục vụ công việc tu học và giảng pháp cho hai bộ Tăng Ni mỗi độ an cư kiết hạ.

_____________________

1 Bá Tát là ngày định kỳ thuyết giới nửa tháng một lần, cùng nhắc nhở nhau về giới pháp của hành giả tu hành, nhằm nuôi lớn các thiện pháp, giới thân tuệ mạng khiến chúng trưởng thành trong sự thanh tịnh, hầu duy trì và phát triển sinh mệnh của Tăng đoàn trong tỉnh thần hòa hợp và thanh tịnh. Theo: http://phatgiaonamdinh.vn/tin-tuc/phat-giao-nam-dinh/nam-dinh-le-ba-tat-dau-tien-cua-chu-tang-ni-ha-truong- chua-ca.html

 

Bên cạnh đó, các vị tổ của Sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám đã đóng góp nhiều công sức trong việc tu sửa, đúc chuông, tạc tượng, làm cho Sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám trở thành Sơn môn của nhiều chốn Tổ trong khu vực. Sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám là nơi phát xuất của nhiều đấng Tăng tài, là những bậc danh Tăng của Phật giáoViệt Nam.

1. KHÁI QUÁT GIAI ĐOẠN ĐẦU THÀNH LẬP.

Theo sách Nam Xương phong vật chí thì thủ phủ Phật giáo của huyện Nam Xương1 thời Lê đóng ở Vĩnh Trụ, nổi tiếng khi cùng một thủ phủ có ba ngôi chùa cùng tên là Sùng Khánh và đều có quy mô đại danh lam. Theo ghi chép trong Sùng Khánh Tự Bi (N0. 8644) thì vào quãng niên hiệu Thống Nguyên 4 (1525) nhà Mạc, Thiền tăng Pháp Tạng cung chức trong viện Thượng Lâm kiêm nhiếp trụ trì chùa Báo Thiên đã sớm về đây khai hóa chùa Sùng Khánh tọa lạc ở thôn Đồng Vũ, xã Thụ Ích, huyện Nam Xương, phủ Lý Nhân.

Không lâu sau, tại thôn Ngô, xã Ngu Nhuế, huyện Nam Xương trong cùng phủ, quan Quận Chính là Lý Triều quyên góp được 200 quan tiền cùng quan viên hương lão trong xã Ngu Nhuế cất dựng một ngôi đại danh lam thứ hai cùng có tên là Sùng Khánh vào niên hiệu Minh Đức 3 (1529) triều Mạc Thái Tổ (Dẫn theo: Nho sinh Vũ Thượng Tá, Đại danh lam Sùng Khánh tự bị, N0. 8534).

Trên con đường ra Đàng Ngoài hoằng hóa Thiền tông Lâm Tế, sau khi rời Thiên Tượng (Nghệ An), qua Khánh Quang Trạch Lâm (Thanh Hóa), Tăng đoàn của Kiều tăng Viên Văn Chuyết Chuyết từng dừng chân nghỉ lại một trong 3 chùa Sùng Khánh trong huyện Nam Xương để khai tràng thuyết pháp trước khi ra đến Đông Đô nước Đại Việt. Thông tin này được dẫn trong sách Chuyết Chuyết ngữ lục - Ấn Phật tâm tông (quyển 7, 8, 9).

Bài Hương Hải Thiền sư ngữ lục tự trong sách Hương Hải Thiền sư ngữ lục cho hay: Vào tháng 5 năm Đinh Mão niên hiệu Cảnh Hưng 8 (1747), đệ tử nối pháp của Thiền sư Hương Hải trụ trì chùa Linh Quang Nguyệt Đường Thiền tự, giữ chức Chính pháp sự là Chính Tông Hòa thượng soạn bài tựa, Thiền môn đệ tử là Tính Hạo viết chữ, Sa di Chiếu Lâm cùng thợ khắc xã Liễu Chàng là Phó Xá khắc ván nhân lần chùa Sùng Khánh xã Vĩnh Trụ, huyện Nam Xương, phủ Lý Nhân khắc in lần đầu cuốn Hương Hải Thiền sư ngữ lục.

Tóm thuật vài thông tin liên quan đến 3 ngôi chùa có tên là Sùng Khánh trong huyện Lý Nhân để thấy: Trước khi có chùa và Tăng đoàn Sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám thì trong địa hạt Phật giáo đã hiện diện và ảnh hưởng sâu rộng, người dân đã thấm nhuần giáo lý Phật giáo. Trụ trì những chùa có lợi dưỡng lớn như chùa hàng phủ, huyện và xã, theo quy định trong điền chế của triều đình thì đều tuần tự do các vị Tăng thống, Tăng phó, Tăng chính quản nhiếp. Từ sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi, đặc biệt từ thời Minh Mệnh, ân sủng của triều đình đối với Phật

_____________________

1 Nam Xương là tên cũ của huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam hiện nay, là một trong năm huyện thuộc phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nội thời Minh Mạng, tồn tại cho đến khi người Pháp tách phủ Lý Nhân để thành lập tỉnh Hà Nam. Theo: https://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Xang

 

 

giáo được chuyển sang Nho giáo thì Phật giáo chỉ được coi là Tả đạo. Ngoài những vị Tăng cương ở những ngôi quốc tự thuộc kinh đô và đất Thang mộc Thanh Hóa, còn lại các nhà sư thuộc Bắc thành và các tỉnh nói chung buộc phải tuân thủ chính sách khảo tăng, số lấy đỗ được gọi là Ân tứ Đao điệpÂn tứ Hòa thượng thì thoát khỏi thuế khóa và phu phen tạp dịch, hưởng lương bằng vai lý trưởng (Cửu phẩm hoặc Tòng cửu phẩm). Nếu thi không trúng, thì nhà sư cũng không khác gì nhân đinh trong làng.

Khi quyền lực của các Tăng thống, Tăng phó, Tăng chính thời Lê bị thiết chế tôn giáo của triều Nguyễn phân giải, thì cũng là lúc cấu trúc chùa hàng tổng, hàng xã cũng phân rã. Nhiều chùa hàng xã ở dạng tiểu danh lam trở nên nổi danh nhờ vào giới tướng, giới đức của những vị sư có tài đức kiêm chân tu thực học. Tế Xuyên - Bảo Khám là một trong những ngôi chùa như vậy.

Mở đầu phần Lịch sử truyền đăng chùa Bảo Khám, Sơn môn Tế Xuyên xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam có đoạn:

“Huyện Lý Nhân có chùa Bảo Khám,

Bông hoa sen giữa áng bùn lầy.

Từ xưa khéo tạo ai hay,

Biết rằng dấu cũ, chùa này còn ghi.

Đời Lê có bà phi Trịnh chúa,

Về chùa này bỏ của sửa sang.

Ruộng tư mới để hai làng,

Tế Xuyên, Tế Cát khói hương phụng thờ.

Trong chùa còn tượng bia để lại,

Cứ hàng năm lễ bái cúng dàng...”

Sau đó thì

“... Đến năm Tân Sửu (1841) hai làng,

Sang chùa Hải Yến cúng dàng Tổ sư.

Tổ thứ nhất tiếp thu ý đó,

Về trụ trì khai hóa trùng tu.

Tuổi già chẳng quản công phu,

Sửa chùa đúc tượng điểm tô huy hoàng.

Bùi Đại nhân ở làng Hải Yến,

Hằng tới chơi vãng cảnh cúng dàng.

Kim Cương kinh khắc bảo tạng,

Đến năm Tự Đức (1850) đúc chuông khánh thành...”

Theo Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm, Sơn môn Tế Xuyên bắt nguồn từ chùa Hồng Ân bên Hưng Yên1, thuộc dòng thiền của Tổ sư Minh Châu Hương Hải².

 

 

 

2. CÁC THẾ HỆ TRUYỀN ĐĂNG

2.1. Đệ nhất tổ: Đại Sa môn Tịch Viên - Thích Từ Tế tổ sư (? - 1864)

Tịch Viên Từ Tế Tổ sư vừa là đệ tam Thiền tổ Hải phái Hồng Ân kiêm đệ nhất Thiền tổ Khai sơn chùa Tế Xuyên - Bảo Khám. Sư là môn nhân đời thứ 40 Thiên phái Lâm Tế dòng Linh Quang Nguyệt Đường. Tổ sư họ Đỗ, người xã Hữu Lộc, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình. Sư không rõ năm sinh và tuổi thọ, là đệ tử nổi pháp của Tổ sư Hải Tâm Khoan Hòa. Sư Viên tịch vào ngày 26 tháng 4 năm Giáp Tý niên hiệu Tự Đức (1864).

Theo văn bia Bảo Khám Tự kỷ niệm tiền tu công đức (bia kỷ niệm công đức tu sửa trước đây tại chùa Bảo Khám) do Sa môn Thanh Hài dựng năm 1937, có đoạn: “Quãng những năm niên hiệu Thiệu Trị (1841 - 1847), kỳ lão trong 2 xã Tế Xuyên và Tế Cát thương thỏa rồi cùng sang chùa Hồng Ân, xã Hải Yến, huyện Tiên Lữ vái bẩm và rước thỉnh Tổ sư nổi đèn đời thứ nhất, pháp tự là Tịch Viên về chùa Bảo Khám khai hóa. Hồi đó, Tổ sư có trùng tu điện báu, tô thếp tượng vàng, khắc Kinh Kim Cương. Tổ có cùng với Tiến sỹ Đại sứ họ Bùi (Bùi Dị) giao du làm bạn phương ngoại. Đến năm Tân Dậu niên hiệu Tự Đức (1861) Tổ có kính đúc một quả chuông lớn”.

Trong Bảo Khám Tự cứng Tổ khoa có ghi:

“Tổ khai mở, tông đắp bồi;

Đất linh thiêng, người hào kiệt.

Nhân lành sớm cấy, làng Cự Lâm bóng mát rợp gia phong;

Quả tốt nay đơm, xã Hữu Lộc Đỗ môn lừng thế phả.

Phải là âm công dầy chứa, có đức có người;

Cho nê mùi đạo sâu xa, tu nhân tu phúc.

Đến cửa Thiền vào năm Quý Dậu (1813), thay ngôi Trưởng tòa để hầu thầy;

Trao Đại giới ở chùa Phổ Minh, đứng đầu áo nâu đi cứu thế.

Mỗi lúc “quân tăng” về nuôi mẹ, quạt nồng ấp lạnh không khuây;

Thường xem Bồ tát đi độ sinh, đau xót yêu thương chẳng bỏ.

Khắc in kinh Kim Cương, Nhật Tụng, khiến Bùi Đại nhân hay tin tán thưởng;

Trùng tu chùa Quan Nhân, Tế Xuyên, để dân Sơn Nam xa trông mến mộ.

Thờ Phật tỉnh nghiêm, sớm thiền tối tụng thày làu thông;

Phụng đạo chuyên cần, dưới hóa trên hoằng đều tha thiết.

Canh Tuất (1850) Bảo Hưng xưa dĩ vãng, trì danh sáu chữ để dành lương;

Giáp Tý (1864) Tự Đức Hạ chớm về, xét kỹ sáu Như nhàn cuộc thú.

So hàng Thượng thiện;

Vào thẳng Tỳ Lư.

Nam mô Diệu Hạnh tháp Ma ha Sa môn Tịch viên Tử Tế Thiền sư.

_____________________

1 Hà Nội: Sơn môn Tổ đình Bồ Đề gặp mặt đầu xuân Mậu Tuất, trên https://nguoiphattu.com/tin-tuc/mien- bac/11963-ha-noi-son-mon-to-dinh-bo-de-gap-mat-dau-xuan-mau-tuat.html, 25/02/2018.

2 Anh Văn, Tổ đình Tế Xuyên - Nơi phát xuất nhiều vị cao tăng Phật giáo, https://phatgiao.org.vn/to-dinh-te- xuyen-noi-phat-xuat-nhieu-vi-cao-tang-phat-giao-d26829.html.

 

2.2. Đệ nhị tổ: Ứng viện hậu học Chiếu Trí - Thích Không Không Tổ sư ( 7 - 1890)

Theo Bảo Khám Tự kỷ niệm tiền tu công đức bị ký do Sa môn Thanh Hài dựng năm 1937 tại bản tự cho biết: Tổ sư Chiếu Chí, còn gọi là Thanh Chí, là môn nhân đời thứ 41 Thiền phái Lâm Tế Linh Quang Nguyệt Đường thuộc Hải phái Hồng Ân. “Tổ nối đèn đời thứ 2 chùa Tế Xuyên - Bảo Khám, là đệ tử của Tổ đệ nhất Tịch Viên Từ Tế, nguyên quán cùng quê với Tổ sư ở xã Hữu Lộc, huyện Thư Trì, tỉnh Thái Bình, họ Nguyễn. Tổ sư xuất gia thuở để chỏm, tu hành đắc đạo, tính trời sáng láng, đức hạnh kiêm toàn. Đi ứng duyên thì từ các chùa Hải Yến, Thụy Lôi cho tới Tế Xuyên, Mai Xá đều đứng ra xây cất chỉnh trang. Về mặt hoằng pháp thì các bộ Long thư, Trùng trị, Tăng hộ, Sa di đại - tiểu đều đứng ra khắc in, rất có nhiều công trong việc xiển dương Tượng giáo. Tổ sư viên tịch vào ngày 4 tháng 2 năm Canh Dần niên hiệu Thành Thái (1890)”.

Đường thỉnh của Tổ sư trong Bảo Khám Tự cúng Tổ khoa xin dịch ra như sau:

Trời Nam Định nên phận;

Đất Kiến Xương lạ kỳ.

Thư Trì ngưng nước đức tinh sương;

Cự Lâm nở tỉnh hoa kỳ dị.

Vun buộc nhân duyên nơi Hữu Lộc;

Vo tròn quả phúc cửa Nguyên A.

Để chỏm đã đi tu;

Nhi đồng liền vào đạo.

Khoác áo bào nhẫn nhục, rộng lòng trời rạng sáng bao la;

Ôm y bát trao truyền, thấy tính đất hồn nhiên tự tại.

Thụ Thanh Văn lúc thành niên, nghiêm giữ Bách Trượng thanh quy;

Chứng Tỳ Bạt năm bất hoặc, tiêu biểu trời người tai mắt.

Ứng duyên đời ở Hải Yến, Thụy Lôi, Tế Duyên, Mai Xá, chùa cảnh thảy được sửa sang;

In pháp bảo gồm Nhật tụng, Trùng trị, Tăng hộ, Sa di, lớn bé đều đem in cúng,

Thiền viện mười khoa thì tám, chín;

Kim cương bốn quả giữ hai, ba.

Bốn chúng tựa mây ùn về;

Lại qua vang tiếng hỏi han.

Nước Lạc ngẫm nghĩ quê nhà, một lòng kính thành chẳng rối;

Bóng Từ ấp ủ trong tâm, bốn tướng biết nhau đã chán.

Đài vàng vòi vọi bỗng gọi về;

Biển chúng chơ vơ buồn đứng ngóng.

Nam mô Từ Tuệ tháp Ma ha Sa môn Chiếu Chí Thích Không Không Thiền sư”.

Tác phẩm để lại còn:

Bài tựa nhân lần khắc in lại cuốn Chư kinh nhật tụng;

Bài hậu bạt nhân lần khắc in lại cuốn Long Thư Tịnh độ văn;

Bài tựa duyên khởi về việc khắc lại cuốn Vãng sinh Tịnh độ truyện;

2.3. Đệ tam tổ: Đại Sa môn Phổ Tụ - Thích Hoàn Hoàn Luật sư (1842 - 1926)

Sa môn Phổ Tụ là môn nhân Thiền phái Lâm Tế Linh Quang Nguyệt Đường đời thứ 41, kiêm thụ môn nhân Hải phái Hồng Ân và Bảo Khám. Theo cấu trúc khoa cúng Tổ chùa Bảo Khám, Phổ Tụ có mối thâm giao với nhiều bậc kỳ tú trong chốn rừng Thiền trải dài hai bờ tả và hữu sông Hồng. Tả Hồng có Tổ đình Nguyệt Đường và Hải phái Hồng Ân, Vĩnh Nghiêm Đào Xuyên, Bồ Đề. Hữu Hồng một dải từ La Sơn, Sùng Khánh, Đọi Sơn, Chân Quỳnh, Hương Tích, Đa Bảo, Hội Xá, Vân Trai, Thọ Ngài, Linh Sóc, Bình Vọng, Hoa Lâm cho tới.... Viện Viễn Đông Bác cổ. Trong đó có những vị có tác động không nhỏ để tạo nên một bậc long tượng có pháp khí nơi con người Phổ Tụ, đặc biệt là Luật sư Từ Đạt Phổ Thịnh chùa Pháp Quang Thọ Ngải, Luật sư Tâm Viên chùa Vĩnh Nghiêm Đức La, Sa môn Thanh Khang An Lạc chùa Đa Bảo, Giới sư Nguyên Nhuệ chùa La Xuyên, đặc biệt Đại sư Nguyên Biểu Nhất Thiết chùa Thiên Sơn Bồ Đề. Vẫn theo Bảo Khám Tự kỷ niệm tiền tu công đức bị ký do Sa môn Thanh Hài soạn lập vào năm 1937 tại chùa Bảo Khám để thấy hình tích của Tổ - đặc biệt trong công cuộc hoằng dương đạo mạch không dễ mai một. Văn bia cho hay: “Tổ sư nối đèn đời thứ 3 chùa Bảo Khám họ Đoàn, người xã Quần Phương Trung, huyện Hải Hậu, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Thuở niên thiếu xuất gia nương theo Thiền sư Chiếu Sỹ ở chùa xã Quần Phương Hạ. Sau khi xuống tóc thì lại lên chùa Long Đọi nương vào Tôn sư Văn Cụ (tức là Tổ sư nối đèn thứ 6 chùa Đọi Sơn). Về sau lại nương vào tổ thứ 4 ở chùa Hồng Ân xã Hải Yến - tức là Tổ sư nối đèn đời thứ 2 chùa Bảo Khám vậy. Từ đó, thầy trò Thiền môn, cây kim hạt cải hiểu cơ, đạo học uyên thâm, tông phong được tiếp nối chấn hưng cho đến khi nối đèn trụ trì chùa Bảo Khám. Quãng năm Kỷ Sửu (1889) thì sư trùng tu lại chùa cảnh, đúc Thánh tượng Di Đà và Bồ tát Quan Âm, Thế Chí. Đến mùa Thu năm Canh Tý (1900) thì dựng mới gác chuông, sáng lập nhà Tổ, trang nghiêm lại đồ thờ đồng thời cất dựng giảng đường, phòng tăng hết thảy đều hoàn hảo. Lại khắc in lại bộ Quy nguyên, khắc nối bộ Trùng trị, Di Đà viên trung, khắc mới bộ Tỷ kheo ni sao1. Lại mở trường giảng pháp, tiếp đãi kẻ ngộ, cứu độ người mê. Tổ là người đức lớn trong rừng Thiền, ơn tưới khắp biển chúng, đồng thời khai hóa các chùa, như: Lương Khê, Nga Khê, Tân Hưng, Tế Cát, Văn Xá, Mai Xá”. Theo tư liệu Hán Nôm hiện có, chỉ tìm thấy một tác phẩm của tổ Phổ Tụ, gồm: Bài tựa dẫn nhân lần viết chữ và khắc ván, bổ sung thêm phần âm nghĩa cho cuốn “Quy nguyên trực chỉ” viết vào năm 1912. Tổ viên tịch ngày 18 tháng 07 năm Bính Dần (1926), thế thọ 83 năm, trải qua 64 hạ lạp. Môn nhân dựng bảo tháp Tịnh Quang phụng thờ Tổ tại Tổ đình.

____________________

1 Thông tin từ bài viết Hà Nam: Lễ giỗ Tổ Tế Xuyên, trên http://huongdanphattu.vn/news/Phat-giao-Viet- Nam/Ha-Nam-Le-gio-To-Te-Xuyen-4946/ ngày 03/10/2012 cho biết thời điểm Đệ Tam tổ Tế Xuyên khắc in các bộ luật, luận như sau:

Năm 1890: khắc in Luật Trùng trị:

Năm 1912: khắc in Luận Quy Nguyên trực chỉ;

Năm 1924: khắc in Luận Di Đà viên trung;

Năm 1926: khắc Tỷ kheo ni sao.

 

 

 

2.4. Đệ tử tổ: Hòa thượng Thích Doãn Hài (1874 - 1958)1

Ngài quê ở Mai Xá, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Năm 15 tuổi (1889), hội đủ nhân duyên, ngài xin phép song thân cho xuất gia, tìm đến Đệ nhị Sư tổ xin quy y thọ giới. Năm 16 tuổi, ngài thọ giới Sa di. Năm 1890, Đệ nhị Sư tổ viên tịch, ngài được Đệ tam Sư tổ - Thích Hoàn Hoàn tiếp tục dìu dắt trên con đường tu học. Năm 20 tuổi (1893), ngài thọ Cụ Túc giới tại Đại giới đàn tổ chức tại bản tự, được trao pháp danh Thông Hiển. Sau đó, ngài được Đệ tam Sư tổ gửi lên chùa Bồ Đề (Gia Lâm) làm thị giả cho Hòa thượng Nguyên Biểu. Năm 1906, Hòa thượng Nguyên Biểu viên tịch, ngài lại lên Tổ đình Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) tham học với Hòa thượng Thanh Hanh. Sau đó, ngài về trụ trì chùa Tế Cát, đồng thời trợ giáo cho Đệ tam Sư tổ truyền pháp, giữ mạng mạch Tế Xuyên.

Năm 1926, Đệ tam Sư tổ viên tịch, ngài được sơn môn suy tôn làm Đệ tứ Sư tổ Tế Xuyên - Bảo Khám, tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh, san khắc kinh điển, luật tạng, như: Thiền Lâm Bảo Huấn, Tăng Hộ, Tâm Tạng, Địa Tạng mà Đệ tam tổ đang làm dở. Năm 1934, Phong trào Chấn hưng Phật giáo được phát động, ngài nhiệt thành hưởng ứng và vận động chư tăng, Phật tử trong sơn môn tham gia. Khi tờ Đuốc Tuệ của Hội Bắc Kỳ Phật giáo ra đời, ngài được mời làm Phó chủ bút, hỗ trợ cho Hòa thượng Trung Thứ đương nhiệm chủ bút. Khi Hòa thượng Trung Thứ viên tịch năm 1936, ngài nhận trách nhiệm chủ bút, quy tụ được nhiều Tăng Ni, cư sĩ,... viết bài cho báo và duy trì tờ báo xuất bản liên tục đến Cách mạng tháng Tám năm 1945. Trong thời gian làm chủ bút tờ Đuốc Tuệ, ngài được Hội Bắc Kỳ Phật giáo cung thỉnh giữ chức Trụ trì chùa Quán Sứ - nơi đặt trụ sở của Hội. Ngày 17 tháng 11 năm Mậu Tuất (1958), ngài viên tịch, hưởng thọ 85 tuổi đời, 64 hạ lạp.

2.5. Đệ Ngũ tổ: Chân Thực tháp, tự Thông Đoan - Thích Thiện Bản tổ sư (1884-1962)

Hòa thượng Thích Thiện Bản thuộc thế hệ thứ 4 tổ đình Tế Xuyên. Hòa thượng Thích Thiện Bản (Tổ Cao Đà), thế danh Hoàng Ngọc Thụ, sinh giờ Dần ngày mồng 7 tháng 3 năm Giáp Thân (1884) tại làng Tử Mặc, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong một gia đình nông dân có truyền thống mến mộ đạo Phật. Năm 16 tuổi (Canh Tý - 1900), Ngài từ biệt song thân đến chùa Diên Phúc, thị trấn Vân Đình, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) khấn cầu xuất gia và được thầy trụ trì chấp nhận cho tập sự xuất gia. Ngày 16 tháng 11, Ngài được cầu giới Sa di tại chốn Tổ Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội do Tổ Đệ nhị Quảng Gia làm Hòa thượng giới đàn. Cũng từ đây, Ngài được Tổ cho làm thị giả tu học tại trường Phật học chùa Bồ Đề. Năm sau, Ngài được Tổ cho lễ Sư tổ Phổ Tụ - Tế Xuyên tham học đạo thiền. Năm 20 tuổi (Giáp Thìn - 1904) vào ngày 15 tháng 02, Ngài được nghiệp sư cho đăng đàn cầu Đại giới tại tổ đình Tế Xuyên, theo học đắc pháp nơi Tổ Phổ Tu với pháp danh Thông Đoan. Năm Bính Thìn (1916), với mong muốn mở rộng tầm hiểu biết, Ngài xin phép Tổ Tế Xuyên du tích tham phương học đạo nơi Tổ Thanh Hanh (Thiền Gia Pháp chủ Phật giáo Bắc Kỳ) và đã trải qua 10 Hạ tại chốn Tổ Vĩnh Nghiêm. Năm Bính Dần (1926), tổ Phổ Tụ thị tịch, Ngài từ biệt thầy bạn trở về Tế Xuyên thụ tang, đền

_________________

1 Về Đệ tứ tổ, chúng tôi tóm lược từ bài viết: Hòa thượng Tế Xuyên - Thích Doãn Hài (1874 - 1958) đăng trên trang tin của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thành phố Hà Nội: https://phatgiaohanoi.vn/hoa-thuong-te- xuyen-thich-doan-hai.html

đáp công ơn giáo dưỡng giới thân tuệ mệnh của Tôn sư. Năm Mậu Thìn 1928 Ngài trụ trì chùa Tế Xuyên - Bảo Khám. Năm Canh Ngọ (1930), Ngài giao chùa cho trưởng tử trụ trì, đến trụ trì và xây dựng chùa Bà Hướng (chùa Cao Đà) ở Hà Nam. Năm 1958 Hòa thượng Doãn Hài viên tịch, Ngài nhận lãnh trách nhiệm thống lãnh sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám. Ngài viên tịch ngày mồng 10 tháng 5 năm 1962 (Nhâm Dần), trụ thế 79 năm, trải qua 68 mùa kiết Hạ an cư.

2.6. Kế đăng đời thứ sáu: Hưng Đồng tháp - tự Tâm Thiều - Thích Hải Triều Hòa thượng (1910 - 1982)

Hòa thượng Thích Hải Triều thuộc thế hệ thứ 5 tổ đình Tế Xuyên, họ Nguyễn, sinh năm Canh Tuất (1910), quê ở xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ngài kiêm trụ trì chùa Tế Cát. Ngài viên tịch ngày 7 tháng 12 năm Nhâm Tuất (1982).

2.7. Kế đăng đời thứ bảy: Nhân Hòa tháp - tự Đức Hạnh - Thích Nguyên Trác (Thanh Trác) Hòa thượng (1922 - 2001)

Hòa thượng Thích Nguyên Trác thuộc thế hệ thứ 6 tổ đình Tế Xuyên. Ngài sinh năm Nhâm Tuất (1922), quê ở xã Hòa Lạc, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Ngài trụ trì chùa Tế Cát, từng giữ cương vị Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Hà Nam. Ngài viên tịch ngày 01 tháng 04 năm Tân Tỵ (2001).

Hiện nay, Đại đức Thích Quảng Tế đang thay mặt sơn môn trông nom chùa Tế Xuyên - Bảo Khám. Đại đức thuộc thế hệ thứ bảy tổ đình Tế Xuyên.

3. CÁC BẬC TỔ ĐỨC, DANH TĂNG CỦA SƠN MÔN TẾ XUYÊN - BẢO KHÁM.

3.1. Sư tổ Thích Thông Tập - pháp hiệu Duy Tiến - tháp hiệu Hòa Bình (1889 - 1976): Sư tổ Thích Thông Tập thuộc thế hệ thứ 4 tổ đình Tế Xuyên, pháp tử tổ Đệ tam. Ngài họ Nguyễn, sinh năm Kỷ Sửu (1889), quê ở xã Mai Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ngài trụ trì chùa Thiên Phúc, chùa Sủi (Đại Dương, Sùng Phúc, Hà Nội), chùa Hội Xá (Hà Tây, nay là Hà Nội). Ngài có công đức lớn trong việc sao chép Tam tạng Thánh điển tại Viện Viễn Đông Bác Cổ để Giáo hội khắc bản, in ấn lưu hành. Ngài viên tịch ngày 14 tháng 05 năm Bính Thìn (1976).

3.2. Đại lão Hòa thượng Thích Tâm An - pháp hiệu Từ Tuệ - tháp hiệu Phổ Đồng (1892 - 1982): Hòa thượng Thích Tâm An thuộc thế hệ thứ 4 tổ đình Tế Xuyên, học trò đắc pháp Tổ Đệ tam. Ngài họ Đào, sinh giờ Tuất ngày 12 tháng 11 năm Nhâm Thìn (1892) trong một gia đình nông dân nghèo vùng quê Nam Định. Năm 16 tuổi mồ côi cha, Ngài vừa lao động kiếm tiền nuôi mẹ, vừa chăm lo đèn sách dùi mài kinh sử, ngõ hầu tiến xa trên bước đường khoa cử. Năm 19 tuổi Ngài được người bạn Nho học mộ đạo Phật, hướng dẫn đầu Phật xuất gia tại chùa Phổ Quang, Hà Đông (nay là Hà Nội). Sau đó phụ mẫu bệnh nặng, Ngài nghĩ phải làm tròn chữ hiếu nên xin phép Sư trưởng về quê. Năm Quý Sửu (1913), lúc Ngài 22 tuổi, huyên đường quy ẩn tổ tiên. Sau khi lo lễ tang chu tất, Ngài tạm biệt xóm làng, họ hàng đến chùa Vân Mai, tỉnh Nam Hà xin sống cuộc đời phạm hạnh, được Hòa thượng Thích Khai Quyền chấp thuận, sớm tối hầu thầy học đạo, chuyên tâm tu tập noi gương tiên hiền cổ đức [6]. Năm Giáp Dần (1914), ở độ tuổi 23, Ngài được cầu Sa di thập giới tại chùa Vân Mai với Hòa thượng Thích Khai Quyền. Tiếp đó năm 24 tuổi, nhân ngày 17 tháng 11 năm Ất Mão (1915) - ngày khánh đản Đức Phật A Di Đà, Ngài được thụ giới Cụ túc tại giới đàn Tế Xuyên - Bảo Khám, do Sư tổ Phổ Tụ làm Đường đầu truyền giới. Từ đây Ngài chuyên trì giới luật, tiến đạo nghiêm thân, luôn theo hầu Sư tổ Phổ Tụ - Tế Xuyên. Ngài được Sư tổ cho chuyên học luật tạng, tham học nơi các bậc cao tăng ở các khóa Hạ an cư như trường: Tế Xuyên (Hà Nam), trường Quế Phương (Nam Định) [6]. Hòa thượng viên tịch hồi 13 giờ, ngày 13 tháng 09 năm Nhâm Tuất (1982) tại thiền sàng Quán Sứ. Thế thọ 91 tuổi, trải qua 66 mùa Hạ an cư, trong sự nghiệp “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa quần sinh”.

3.3. Đại lão Hòa thượng Thích Thông Ban - pháp hiệu Nhân Hòa - tháp hiệu Hải Nhân (1901 - 1998): Hòa thượng Thích Thông Ban thuộc thế hệ thứ 4 tổ đình Tế Xuyên, pháp tử Tổ Đệ tam Thích Phổ Tuệ, trụ trì chùa Đồng Lư, Mai Xá (Hà Nam). Ngài sinh năm Tân Sửu (1901), họ Đặng, là thành viên Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng Ban Trị sự tỉnh hội Phật giáo Hà Nam. Ngài viên tịch ngày 17 tháng 01 năm Mậu Dần (1998) [12].

3.4. Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải - tự Thanh Thao - tháp hiệu Thanh Minh (1906-1979): Hòa thượng Thích Trí Hải thuộc thế hệ thứ 5 tổ đình Tế Xuyên, pháp tử Sư tổ Thích Thông Dũng (chùa Mai Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam). Hòa thượng thế danh là Đoàn Thanh Tảo, sinh năm Bính Ngọ (1906) tại làng Quân Phương Trung, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Ngài mến đạo Phật và có ý định xuất gia lúc 12 tuổi. Sau 5 năm học ở chùa làng, khi 17 tuổi, được song thân cho phép và Sư cụ Thanh Dương hướng dẫn, giới thiệu, Ngài chính thức nhập đạo dưới sự dạy dỗ trực tiếp của Tôn sư Thích Thông Dũng. Chẳng bao lâu sau, Ngài được thọ giới Sa di ở tổ đình Tế Xuyên. Năm 20 tuổi, Ngài thọ giới Tỳ kheo rồi tiếp tục đi học và kiết hạ trong suốt 5 năm sau đó [5]. Năm 25 tuổi (1930), Ngài ra trụ trì chùa Phú Đa, xã Yên Lập, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà được một năm thì lại trở về trông coi chùa Mai Xá vì Tôn sư viên tịch. Năm 1979, Ngài vào thăm miền Nam, được Tăng Ni Phật tử nghênh tiếp nồng hậu và kính mến đặc biệt. Khi trở về Bắc được mấy hôm, Ngài lâm bệnh và thị tịch ngày 7 tháng 6 năm Kỷ Mùi (1979) tại chùa Phật Giáo Hải Phòng. Ngài trụ thế 74 tuổi, hoằng đạo 57 năm.

3.5. Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Tịch - pháp hiệu Như Sơn - tháp hiệu Cao Phong (1915 - 2005): Hòa thượng Thích Tâm Tịch thuộc thế hệ thứ 5 tổ đình Tế Xuyên, pháp tử Sư tổ Thích Thiện Bản. Hòa thượng thế danh là Nguyễn Đình Khuê, sinh ngày 17 tháng 11 năm Ất Mão (1915) tại phố Hội Bình, tỉnh Yên Bái (nay là phường Hồng Hà, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái). Năm 16 tuổi, Ngài rời gia đình đi tìm học đạo. Năm 20 tuổi, Ngài tìm đến gặp Tổ Vĩnh Nghiêm, tức Đức Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Hanh tại chùa Quán Sứ. Khi đó Tổ Vĩnh Nghiêm gửi Hòa thượng Thích Thái Hòa đưa Ngài về Hà Nam, gặp sư tổ Tế Xuyên là Đại lão Hòa thượng Thích Doãn Hài, rồi nhận Hòa thượng Thiện Bản - trụ trì chùa Cao Đà ở Lý Nhân, Hà Nam làm thầy nghiệp sư thế phát, quy y. Năm 1936, khi 21 tuổi, Ngài được thụ Thập giới Sa di do Hòa thượng Thích Doãn Hài làm Đàn đầu Hòa thượng tại tổ đình Tế Xuyên.

Một thời gian sau, Ngài theo học với Tổ Tuệ Tạng tại chùa Quán Sứ [2]. Năm 1939, khi 25 tuổi, Ngài chính thức thụ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Quán Sứ do Tổ Trung Hậu là Hòa thượng Thích Thanh Ất làm Đàn đầu. Sau khi thụ giới, Ngài tiếp tục theo Tổ Tuệ Tạng và tham học Phật pháp tại các trường Phật học: Quán Sứ, Bồ Đề, Cao Phong,... Từ năm 1981, Ngài làm trụ trì chùa Quán Sứ. Năm 1997, Đại lão Hòa thượng Thích Thông Ban viên tịch, Ngài nhận lãnh trách nhiệm Viện chủ tổ đình Tế Xuyên - Bảo Khám. Vào hồi 14 giờ 30 phút, ngày 26 tháng 01 năm Ất Dậu (2005), Đức Đệ nhị Pháp chủ Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Tịch viên tịch, thọ 90 tuổi, 66 tuổi đạo. Hòa thượng được an táng trong bảo tháp tại chùa Bồ Đề, Gia Lâm, Hà Nội. Các chùa đã trụ trì: Quán Sứ, Cao Đà, Bồ Đề, Tế Xuyên, Bà Đá.

3.6. Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Nguyện - pháp hiệu Tinh Cần - tháp hiệu Nam Bình (1917 - 1990): Hòa thượng Thích Tâm Nguyện là thế hệ thứ 5 tổ đình Tế Xuyên, pháp tử sư tổ Thích Doãn Hài. Hòa thượng thế danh là Phạm Văn Quý, sinh ngày 23 tháng Chạp năm Đinh Tỵ (1917) tại xã Bình Nghĩa, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Lúc nhỏ Ngài được cha mẹ cho đi chùa lễ Phật, nghe giảng kinh pháp. Năm 17 tuổi (1934), được song thân chấp thuận, Ngài đến chùa Bảo Khám đảnh lễ cầu Tổ Đệ - tứ là Hòa thượng Thích Doãn Hài, xin được xuất gia học đạo. Ngài được Tổ thu nạp làm đệ tử và cho thế phát quy y. Năm 18 tuổi (1935), Ngài được Bổn sư trao truyền 6 thập giới tại chùa Bảo Khám và được ban pháp danh Tâm Nguyện [5]. Sau đó Ngài được Bổn sư cho lên Hà Nội theo học tại chùa Quán Sứ và chùa Bồ Đề. Sau ba năm tu học tỉnh cần, Ngài được đăng đàn thọ Tỳ kheo giới tại Đại giới đàn ở chùa Quán Sứ, trụ sở của Hội Bắc Kỳ Phật giáo do Tổ Trung Hậu là Hòa thượng Chân Như làm Đàn đầu Hòa thượng. Năm 1943, Ngài được Tổ Thiện Bản trụ trì chùa Cao Đà chỉ định làm đương gia. Từ năm 1946 đến năm 1950, Ngài phụng mệnh Tổ Cao Đà làm trụ trì trực tiếp chùa Thượng Nông và Lý Nhân ở Hà Nam. Năm 1954, Ngài cùng Hòa thượng Tuệ Tạng rời chùa Quán Sứ về chùa Vọng Cung ở xã Quần Phương, tỉnh Nam Định. Khi Tổ Tuệ Tạng viên tịch, Ngài đồng trụ trì chùa Vọng Cung với Hòa thượng Thích Tâm Thông. Ngài viên tịch ngày 23 tháng 6 năm Canh Ngọ (1990), hưởng 74 tuổi đời, 51 hạ lạp.

3.7. Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Bích (Thanh Bích) - pháp hiệu Trí Tính - tháp hiệu Phúc Thắng (1912 - 2013): Hòa thượng Thích Thanh Bích là thế hệ thứ 5 tổ đình Tế Xuyên, pháp tử Sư tổ Thích Thông Tập. Hòa thượng thế danh là Nguyễn Quang Bích, sinh năm 1912 tại xã Mai Xá, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Năm lên 5 tuổi (1917), Hòa thượng theo cha mẹ rời bản quán đi buôn bán xa. Khi đến thôn Kim Đới, xã Hữu Bằng, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng, gia đình gặp vợ chồng nhà nho Dương Đình Huỳnh, Trọng Thị Như. Hòa thượng đã được nhà nho Huỳnh dạy dỗ cẩn thận cũng như được đến trường học. Hòa thượng sớm có trong người lượng kiến thức Nho học và xã hội tương đối ổn định. Đặc biệt, Hòa thượng đã học thông tiếng Pháp, có khả năng giao tiếp với người nước ngoài. Việc soạn viết các văn bản chữ Nôm, chữ Hán cũng trở nên dễ dàng đối với Hòa thượng. Tròn 12 tuổi, Hòa thượng phát nguyện xuất gia tu hành. Năm 13 tuổi, Hòa thượng được Tổ Thiên Phúc - tức Hoà Thượng Thích Thông Tiến (1889 - 1976) thuộc sơn môn Tế xuyên - Bảo Khám cho sang

chùa Bà Đá tòng Tăng chấp tác. Cuối năm ấy, Tổ Bà Đá - tức Hoà Thượng Thích Thông Toàn nhận thấy Ngài là bậc pháp khí thiền gia, cơ duyên đầy đủ, liền cho đăng đàn thụ giới Sa di tại tổ đình Bà Đá. Năm 1937, Hoà thượng được đăng đàn thọ Đại giới tại Đại giới đàn chùa Bút Tháp (Bắc Ninh). Sau 22 năm theo thầy vân du học đạo, năm 1940, Trưởng lão trở về ngôi chùa Sủi (Bắc Ninh, nay là Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội), chuyên tâm công phu tu tập Thiền - Tịnh song tu. Năm 1960, Ngài cùng với Tôn sư là Tổ Thiên Phúc trở về tổ đình Hội Xá, Thường Tín, Hà Nội. Năm 1966, Ngài trụ trì ngôi chùa Đậu (Thành Đạo tự). Năm 2005, Ngài được thỉnh làm Trưởng sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám. Do niên cao lạp trưởng, Trưởng lão Hòa thượng đã thu thần viên tịch vào lúc 08 giờ 20 phút ngày 12 tháng 02 năm Quý Tỵ (2013) tại tổ đình Hội Xá, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội. Ngài là vị cao tăng trụ thế lâu nhất ở Việt Nam trước khi viên tịch ở tuổi 101.

3.8. Trưởng lão Hòa thượng Thích Tâm Giác - hiệu Uyên Minh - tháp hiệu Chân Định (1917-1973): Hòa thượng Thích Tâm Giác là thế hệ thứ 6 tổ đình Tế Xuyên, pháp tử Hòa thượng Trí Hải. Hòa thượng thế danh là Trần Văn Quý, sinh năm 1917 tại Nam Định, là con trai thứ hai trong gia đình gồm hai trai một gái. Được biết thuở nhỏ, Ngài cứ yếu đau, quặt quẹo luôn, rất khó nuôi. Theo tập quán địa phương Ngài được hai cụ thân sinh đem "bán khoán" cho vị tăng trụ trì tại ngôi chùa trong thôn và ở luôn trong chùa. Đến khi lên 7 tuổi, vì đã quen sống cuộc đời chay tịnh, Ngài xin song thân cho xuất gia đầu Phật. Được sự chấp thuận của hai cụ, bước đầu, Ngài thụ nghiệp với Hòa thượng Thích Trí Hải tại chùa Mai Xá thuộc Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Năm 17 tuổi, Ngài được Bổn sư cho theo lên Hà Nội hầu hạ và đóng góp sức mình vào công việc hoằng dương đạo pháp. Năm 1937, khi vừa tròn 20 tuổi, sau khi tốt nghiệp lớp Trung đăng Phật học tại trường Bồ Đề thuộc huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, Ngài được các Tổ cho đăng đàn thọ Tỳ kheo giới [5]. Ngài tốt nghiệp Đại học Phật học tổ chức tại chùa Quán Sứ vào năm 1945. Năm 1953, Ngài cùng Hòa thượng Thanh Kiểm sang Nhật Bản để nghiên cứu về công cuộc chấn hưng Phật giáo tại quốc gia đó [5]. Sau 09 năm tu học tại Nhật, Ngài đã tốt nghiệp Đại học Phật pháp tại Tokyo, trở về Việt Nam. Trong lúc Phật sự được tiến triển một cách tốt đẹp, thì một cơn bệnh “vô thường" chợt đến. Ngài viên tịch vào ngày 20 tháng 10 năm Quý Sửu (1973). Nhục thân của Ngài được an táng tại nghĩa trang Vĩnh Nghiêm, huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh.

KẾT LUẬN

Sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám ở tỉnh Hà Nam qua sự khái quát về các thế hệ truyền đăng cho thấy vai trò của sơn môn cũng như của các vị sư tổ đối với Đạo pháp và Dân tộc của Phật giáo Việt Nam. Các vị sư tổ của sơn môn đều xứng đáng là những bậc cao Tăng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sự đóng góp của các vị sư tổ và các vị danh Tăng về sau đã khiến chùa Tế Xuyên dần dần trở thành Tổ đình nổi tiếng xứ Bắc; Tăng Ni về theo học hàng trăm vị, thiện tín tới quy y cả ngàn người.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thích Đồng Bổn, Tiểu sử Danh Tăng Việt Nam tập 1,2, Nxb. Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh, 1995.

2. Thích Thanh Hài, Bảo Khám tự cúng Tổ khoa, lưu giữ tại chùa Tế Xuyên Bảo Khám.

3. Thích Thanh Hài dựng (1937), Văn bia Bảo Khám tự kỷ niệm tiền tu công đức, lưu giữ tại chùa Tế Xuyên - Bảo Khám.

4. Văn bia Đệ tử môn đồ trí vu am tháp Tôn sư bị ký, Tổng tập thác bản văn bia Việt Nam, No. 3731 - 3732, 3746 - 3747, dựng vào niên hiệu Vĩnh Hựu thứ 5 (1739) tại chùa Linh Quang Nguyệt Đường.

5. Nguyễn Sỹ Hưng (2018), Sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám ở tỉnh Hà Nam, Luận văn Tôn giáo học.

Nguồn: Bài: Các thế hệ truyền đăng và danh tăng sơn môn Tế Xuyên - Bảo Khám ở Tỉnh Hà Nam in trong “Kỷ yếu Hội thảo Phật giáo xứ Đông trong dòng chảy văn hóa dân tộc tr89 - tr100”

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây